[Đăng ngày: 25/05/2017]
Theo tác giả Trần Hòa – Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện C Đà Nẵng, u ác tính di căn đến ruột thừa rất hiếm gặp, hầu hết không được chẩn đoán trước mổ do bị che lấp bởi các biểu hiện của triệu chứng ruột thừa viêm hoặc bệnh lý bụng Ngoại Khoa. Thường bệnh được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học trên mẫu ruột thừa được cắt bỏ.
BS Trần Hòa báo cáo trong 10 năm trở lại từ 2006-2016, Bệnh viện C Đà Nẵng đã ghi nhận có 03 trường hợp ung thư biểu mô tuyến di căn đến ruột thừa. Kết quả này được ghi nhận trên các mẫu ruột thừa được cắt bỏ, đây cũng là công việc thường qui ở khoa giải phẫu bệnh. Bệnh nhân đầu tiên là bệnh nhân nam, 55 tuổi với chẩn đoán u đại tràng góc gan, điều trị cắt đại tràng, kết quả mô bệnh học cho thấy là ung thư biểu mô tuyến di căn ruột thừa. Bệnh nhân thứ hai là bệnh nhân nữ, 66 tuổi; chẩn đoán lâm sàng là ruột thừa viêm, phương pháp điều trị cắt ruột thừa, kết quả mô bệnh học cho thấy ung thư biểu mô tuyến di căn ruột thừa; u nguyên phát đường tiêu hóa. Trường hợp thứ ba là bệnh nhân nữ, 81 tuổi, chẩn đoán lâm sàng là đám quánh ruột thừa; phương pháp điều trị là cắt ruột thừa. Kết quả mô bệnh học cho thấy là ung thư biểu mô tuyến di căn ruột thừa, u nguyên phát ở buồng trứng.
BS Trần Hòa cho rằng qua các nghiên cứu trong ngoài nước, bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến di căn đến ruột thừa thường có biểu hiện triệu chứng bụng ngoại khoa của ruột thừa viêm, hội chứng bụng cấp hoặc bệnh lý bụng ngoại khoa, có khi là biến chứng của viêm phúc mạc do thủng ruột thừa. Có khi bệnh nhân có thêm các triệu chứng như táo bón, có đám quánh ở bụng, đau bụng. Yếu tố ảnh hưởng đến các triệu chứng trên là do ung thư ảnh hưởng tại chỗ lên ruột thừa, các triệu chứng bị che khuất do tác động của corticoid và các liệu pháp điều trị ảnh hưởng đến tế bào trong điều trị ung thư. Triệu chứng lâm sàng của ung thư biểu mô tuyến di căn đến ruột thừa có thể nhầm lẫn với các dạng bệnh ruột thừa viêm, tắc ruột ác tính, thủng đại tràng, viêm đại tràng. Trước khi bệnh nhân được phẫu thuật, không có một dấu hiệu lâm sàng nào đáng tin cậy để hỗ trợ cho chẩn đoán bệnh; có một tỷ lệ bệnh được các bác sĩ dự báo qua chẩn đoán hình ảnh hoặc dự báo trong khi phẫu thuật. Chẩn đoán xác định bệnh vẫn là chẩn đoán mô bệnh học trên mẫu ruột thừa được cắt bỏ.
BS Trần Hòa lưu ý do thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư kéo dài, do vậy cần chú ý khi bệnh cảnh viêm ruột thừa xảy ra trên những bệnh nhân có tiền sử ung thư; theo những nghiên cứu khác cho thấy khoảng thời gian giữa sự hiện diện ung thư với di căn đến ruột thừa dưới hình ảnh ruột thừa viêm dao động từ 1 tháng đến 5 tháng.
Thường u nguyên phát di căn đến ruột thừa gồm có buồng trứng, vú, dạ dày, phế quản, phổi, tụy, đại tràng, vú, tuyến tiền liệt, vòm họng, trung thất. Trong những trường hợp bệnh thể hiện dưới hình ảnh bệnh lý viêm ruột thừa, u nguyên phát thường đến từ vú, dạ dày, thận, phổi. Có những nghiên cứu cho thấy trong trường hợp u nguyên phát được phát hiện đồng thời với u nguyên phát di căn đến ruột thừa thì u buồng trứng là vị trí hay gặp nhất (50,5% trường hợp). Đối với những trường hợp bệnh phát hiện ngẫu nhiên thì u nguyên phát hay gặp là ở dạ dày (57%); buồng trứng (10,7%); tụy (7%). Tuy nhiên đôi khi rất khó xác định tổn thương u nguyên phát trong di căn ung thư đến ruột thừa.
Ung thư buồng trứng di căn đến ruột thừa theo khoang bụng; còn di căn đến từ các cơ quan ngoài ổ bụng hầu hết theo đường máu. Đối với ung thư đại tràng khả năng di căn đến ruột thừa có thể do sự lan rộng trực tiếp qua phúc mạc, đường máu, đường bạch mạch và quanh thần kinh. Có những tác giả nghiên cứu cho rằng đôi khi viêm ruột thừa là một trong những triệu chứng đầu tiên của ung thư đại trực tràng. Có gần 29% trường hợp bệnh nhân bị ruột thừa viêm phát hiện ung thư đại tràng trong vòng 3 năm sau mổ; những người trên 50 tuổi có tỷ lệ khoảng 15% u ở đại tràng phải gây ra bệnh ruột thừa viêm. Do vậy những bệnh nhân lớn tuổi bị viêm ruột thừa đều phải lưu ý đến bệnh lý ở đại tràng.
BS Trần Hòa báo cáo về mặt đại thể của 3 trường hợp được ghi nhận tại Bệnh viện C Đà Nẵng không thấy có hình ảnh đặc hiệu về tổn thương để hướng đến ung thư tuyến di căn đến ruột thừa. Có một ghi nhận chủ quan là mật độ ruột thừa có vẻ chắc hơn so với tổn thương viêm khi pha mẫu. Về mặt vi thể, các nghiên cứu cho thấy tổn thương ung thư thứ phát ở ruột thừa có nét tương tự với tổn thương ở dạ dày, đại tràng, vú, đặc biệt trong trường hợp ung thư tế bào nhẫn.
Để quyết định chẩn đoán bệnh thường dựa vào vị trí khu trú của các tế bào u trên mẫu sinh thiết ruột thừa. Các tế bào u luôn khu trú trong lớp thanh mạc, dưới thanh mạc, trong lớp cơ. Niêm mạc ống tuyến ruột thừa không có sự thay đổi hình thái hoặc không có biểu hiện nghịch sản. Cấu trúc mô học của lớp niêm mạc ruột thừa không có những biến đổi liên quan đến ung bướu. Về thời gian sống thêm trung bình sau chẩn đoán bệnh là 22,6 tháng. Dự báo được bệnh ung thư di căn đến ruột thừa trong lúc mổ là yếu tố giúp điều trị để tăng thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Việc cắt bỏ ruột thừa bị di căn không ảnh hưởng đến thời gian sống thêm của người bệnh.
Trần Mai     
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 55

Số lượt truy cập: 9358504

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang