[Đăng ngày: 23/10/2018]
Từ tháng 6/2014 đến tháng 1/2016, tác giả Nguyễn Đình Phương Thảo cùng cộng sự trường Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng và Đại học Y Dược Huế thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau, báo cáo đề tài “Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh và hiệu quả điều trị”. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối liên quan nồng độ estradiol và rối loạn niệu dục phụ nữ mãn kinh; đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn niệu dục phụ nữ mãn kinh.

Đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ mãn kinh có rối loạn chức năng sau khi đã được phỏng vấn và thăm khám tại các Trạm Y tế trong thành phố Huế, được mời đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.

Tiêu chuẩn chọn đối tượng: Những phụ nữ đã mãn kinh tự nhiên thật sự, không có kinh trở lại sau 1 năm, tuổi không quá 65 tuổi, không sử dụng liệu pháp nội tiết, có triệu chứng rối loạn vận mạch hoặc có triệu chứng rối loạn chức năng chung nhưng trong đó triệu chứng vận mạch là triệu chứng nổi trội, đồng ý tham gia nghiên cứu và tình trạng sức khỏe đủ điều kiện để chọn giải pháp can thiệp.

Tiêu chuẩn loại trừ: Những phụ nữ mắc bệnh ác tính, tâm thần. Những phụ nữ đã phẫu thuật cắt tủ cung và hai phần phụ trước và sau mãn kinh. Phụ nữ không còn minh mẫn để có thể trả lời chính xác các câu hỏi được phỏng vấn, những phụ nữ mắc bệnh nội khoa mãn tính như: Đái tháo đường, suy tuyến yên, suy tuyến thượng thận, cao huyết áp. Những phụ nữ có chống chỉ định dùng thuốc nội tiết, những phụ nữ đang dùng liệu pháp nội tiết điều trị và phụ nữ từ chối tham gia vào mẫu nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu cho biết với cách chọn mẫu cụm ngẫu nhiên phân bố có tỷ lệ 1/5 với tổng số phụ nữ mãn kinh. Tác giả đã chọn được 1110 phụ nữ mãn kinh đang sinh sống tại các phường trong thành phố Huế. Nghiên cứu được tiến hành thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các đối tượng, sau đó xác định các rối loạn chức năng của phụ nữ mãn kinh. Các đối tượng nghiên cứu được lấy máu tĩnh mạch để xét nghiệm nồng độ estradiol huyết thanh và xét nghiệm Pap/smear để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Dựa vào mối liên quan giữa nồng độ estradiol với các rối loạn chức năng ở phụ nữ mãn kinh, nhóm nghiên cứu chọn được 415 phụ nữ mãn kinh trên một năm có những rối loạn chức năng và có nồng độ estradiol giảm. Sau đó các đối tượng được tiến hành khám phụ khoa và thực hiện một số xét nghiệm như: Đo điện tâm đồ, chụp nhũ ảnh, siêu âm vú, siêu âm kiểm tra độ dày nội mạc tử cung. Những đối tượng không mắc bệnh lý về tim mạch, u vú hoặc khối u phụ khoa cũng như không có hiện tượng dày nội mạc tử cung, có triệu chứng rối loạn niệu dục hoặc có triệu chứng rối loạn chức năng chung nhưng trong đó triệu chứng rối loạn niệu dục là nổi trội sẽ được chọn điều trị estriol 1mg (cụ thể là Ovestin), uống liều 2mg/ngày trên thời gian 30 ngày. Nghiên cứu chọn được 157 trường hợp để điều trị. Sau kết thúc điều trị 2 tháng, tiến hành đánh giá lại.

Kết quả nghiên cứu  được bác sĩ Phương Thảo báo cáo, tuổi mãn kinh trung bình đối tượng nghiên cứu là 49,47; tuổi mãn kinh lớn nhất là 59 tuổi, tuổi mãn kinh nhỏ nhất là 36 tuổi. Mãn kinh trên 55 tuổi chiếm tỷ lệ 1,9%, mãn kinh dưới 40 tuổi chiếm 5,7%. Đa số phụ nữ mãn kinh trong độ tuổi 40-55 chiếm 92,4%.

Nồng độ estradiol tương quan tỷ lệ nghịch có ý nghĩa thống kê với các triệu chứng rối loạn niệu dục với chương trình hồi quy tuyến tính y = -3,5723x + 25,699. Hệ số tương quan r = 0,70 (mức độ tương quan mạnh).

Các triệu chứng rối loạn tiết niệu chiếm tỷ lệ khá cao trước can thiệp. Sau can thiệp, các triệu chứng này cải thiện đáng kể, thể hiện rõ nhất là triệu chứng tiểu nhiều lần và tiểu khó. Tiểu nhiều lần còn 1,9% so với trước điều trị (40,8%); tiểu đau hầu như đã cải thiện hoàn toàn so với trước điều trị; tiểu đêm > 1 lần còn 5,1% so với trước điều trị (75,8%); són tiểu gắng sức còn 21% so với trước điều trị (54,8%). Sự khác nhau có các triệu chứng trước và sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p (McNemar) < 0,01.

Các triệu chứng về sinh dục cũng cải thiện đáng kể sau can thiệp. Cảm giác bỏng rát âm đạo, âm đạo khô, âm đạo có xung huyết dạng mảng hay dạng chấm và sinh hoạt tình dục đau cải thiện rõ rệt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p (McNemar) < 0,01.

Tác giả nghiên cứu lưu ý nồng độ estradiol, điểm trung bình của chất lượng sống và chức năng tình dục ở phụ nữ mãn kinh cải thiện đáng kể sau thời gian điều trị với Ovestin. Điểm trung bình của chất lượng sống tăng 9,47 và chức năng tình dục tăng 11,36 so với trước điều trị. Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
Nồng độ estradiol tương quan với tỷ lệ nghịch với các triệu chứng rối loạn niệu dục ở nhóm điều trị với Ovestin. Đặc biệt khi nồng đọ estradiol giảm xuống khoảng 15pg/ml thì tần suất xuất hiện các triệu chứng rối loạn niệu dục tăng lên với hệ số tương quan khá chặt (r=0,70).

Các triệu chứng rối loạn niệu dục chiếm tỷ lệ tương đối cao trước can thiệp. Sau can thiệp các triệu chứng này cải thiện đáng kể, thể hiện rõ nhất là triệu chứng rối loạn tiểu tiện. Tiểu nhiều lần còn 1,9% so với trước điều trị (40,8%), tiểu gấp còn 2,5 lần so với trước điều trị (19,1%), tiểu đau hầu như đã cải thiện hoàn toàn so với trước can thiệp, tiểu đêm > 1 lần còn 5,1% so với trước điều trị (75,8%); són tiểu gắng sức còn 21% so với trước điều trị (54,8%), tiểu khó còn 1,3% so với trước điều trị (22,3%).

Hoa Phượng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 218

Số lượt truy cập: 9360671

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang