
Theo dõi áp lực nội sọ được cân nhắc ở tất cả các bệnh CTSN nặng (Glasgow < 8đ), đặc biệt khi có bất thường ban đầu trên phim CT-Scan sọ não. Đặt catether đo áp lực nội sọ (ICP) xâm lấn cho kết quả chính xác nhất về áp lực nội sọ, là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán tăng áp lực nội sọ. Tuy nhiên, phương pháp này có một số chống chỉ định như: bệnh nhân bị rối loạn đông máu, vỡ lún sọ rộng hoặc nhiễm trùng vùng đặt catheter…, biến chứng chảy máu thường gặp nhất với tỷ lệ là 1% với phương pháp đặt trong nhu mô não và 5% khi đặt vào não thất, hơn nữa catheter không lưu được lâu do nguy cơ viêm màng não. Thực tế cho thấy có một số trường hợp sau khi đặt catheter áp lực nội sọ thấp trong suốt quá trình điều trị, điều này làm tăng nguy cơ và tốn kém cho người bệnh. Hiện nay vẫn chưa có phương pháp theo dõi áp lực nội sọ không xâm lấn nào đáng tin cậy. Theo một số tác giả trên thế giới, chỉ số mạch đập của siêu âm Doppler xuyên sọ có mối tương quan với áp lực nội sọ. Do đó ở một số trung tâm hồi sức thần kinh trên thế giới đã sử dụng chỉ số mạch đập trên của máy siêu âm như một công cụ để sàng lọc bệnh nhân có áp lực nội sọ cao và gián tiếp đánh giá áp lực nội sọ, đặc biệt trong những trường hợp có chống chỉ định đặt áp lực nội sọ xâm lấn. Thực tế ở các đơn vị hồi sức tích cực tại Việt Nam còn chưa có phương tiện không xâm lấn theo dõi và đánh giá khách quan những thay đổi áp lực và dòng máu trong não của bệnh nhân CTSN nặng để có phác đồ điều trị phù hợp cho từng thời điểm.
Từ tháng 5/2012 đến tháng 2/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Lưu Quang Thùy cùng cộng sự Trung tâm gây mê hồi sức – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nghiên cứu báo cáo đề tài “Mối tương quan của chỉ số mạch đập trên siêu âm Doppler xuyên sọ và áp lực nội sọ ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng”.
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang; tiêu chuẩn chọn bệnh nhân là từ 16 tuổi trở lên bị CTSN nặng (Glasgow < 8 điểm sau khi đã hồi sức), có CT-Scan bất thường hoặc CT-Scan bình thường nhưng có > một tiêu chuẩn: lớn hơn 40 tuổi, duỗi cứng chi. Được đặt ICP và làm TCD. Được đặt nội khí quản, thở máy thông khí hợp lý.
Bác sĩ Lưu Quang Thùy phân tích báo cáo, kết quả nghiên cứu có tỷ lệ nam nhiều hơn nữ (81,72% với 18,28%). Trong hầu hết các nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, điều này có thể do đặc thù công việc đảm nhận trong xã hội, tham gia giao thông nhiều, lối sống không lành mạnh (uống rượu, bia…) phóng xe tốc độ cao nên tỷ lệ nam giới CTSN cao hơn nữ giới.

Thời gian đến viện sau 3 giờ chiếm tỷ lệ cao nhất (80,65%), đến trước 1 giờ chiếm tỷ lệ thấp (2,15%). Điều này cho thấy công tác cấp cứu ban đầu chưa chuyên nghiệp, bệnh nhân chấn thương sọ não nặng tập trung ở vùng nông thôn xa bệnh viện, phải mất thời gian cấp cứu ban đầu và chuyển tuyến cao hơn. Hai bệnh nhân nhập viện trước 1 giờ do tai nạn xảy ra ngay cạnh bệnh viện được người đi đường đưa ngay vào phòng cấp cứu. Thời gian cấp cứu sau chấn thương chiếm vị trí rất quan trọng (gọi là thời gian vàng), nó ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình điều trị và tiên lượng của người bệnh. Kết quả nghiên cứu của bác sĩ Thùy khẳng định thời gian là một yếu tố quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh, cần thiết phải xây dựng một phác đồ chuẩn thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm chuyên nghiệp hóa công tác cấp cứu ban đầu và thời gian vận chuyển bệnh nhân.
Nghiên cứu của Melek Gura và cộng sự trên 152 bệnh nhân chấn thương sọ não có Glasgow < 8 điểm thực hiện tại trung tâm hồi sức thần kinh Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng vận tốc dòng chảy của động mạch não giữa và chỉ số mạch này có thể giúp đánh giá quá trình diễn biến của tổn thương, có mối liên hệ chặt với áp lực nội sọ và đưa ra hướng điều trị nếu trong đơn vị hồi sức không có sẵn phương tiện đo áp lực nội sọ xâm lấn. Tất cả bệnh nhân được đặt áp lực nội sọ xâm lấn và siêu âm Doppler xuyên sọ trong 5 ngày, các chỉ số được thu thấp trong các thời điểm ngày thứ nhất, ngày thứ ba và ngày thứ năm. Kết quả cho thấy tương quan giữa áp lực nội sọ và chỉ số mạch đập tương đối chặt (P < 0,0001) với các hệ số tương quan là 0,78; 0,56 và 0,53 tương ứng với ba thời điểm. Bác sĩ Thùy cho biết các thông số về siêu âm Doppler xuyên sọ như tốc độ trung bình, chỉ số mạch đập tương quan với áp lực nội sọ trong nghiên cứu phù hợp với các tác giả trên. Ở mức độ áp lực nội sọ 20mmHg tương quan giữa chỉ số mạch đập và áp lực nội sọ chặt chẽ hơn ở mức áp lực nội sọ < 20mmHg (r = 0,77 so với r = 0,22). Trong nghiên cứu của Bellner và cộng sự tiến hành theo dõi áp lực nội sọ trên 81 bệnh nhân chảy máu não thất do chấn thương bằng cách đặt catheter vào não thất và đồng thời làm siêu âm Doppler xuyên sọ não kết luận rằng: sử dụng chỉ số mạch đập có thể ước lượng được áp lực nội sọ > 20mmHg với độ nhạy 0,89 và độ đặc hiệu 0,92. Điều này cho thấy chỉ số mạch đập tương quan rất chặt chẽ với áp lực nội sọ ở nhóm bệnh nhân có áp lực nội sọ cao, đặc điểm này cho phép chúng ta ứng dụng phương pháp siêu âm Doppler xuyên sọ không xâm lấn có thể lượng giá gián tiếp giá trị áp lực nội sọ, vừa là biện pháp ít xâm lấn vừa giảm biến chứng do đặt trực tiếp catheter đo áp lực nội sọ và tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân.
Bác sĩ Thùy có kết luận nghiên cứu, có sự tương quan tuyến tính cao giữa chỉ số mạch đập trên siêu âm Doppler xuyên sọ và áp lực nội sọ đo được qua catheter ở ngày thứ nhất và ngày thứ 5 sau chấn thương. Sự tương quan này giảm theo đến ngày thứ 10 thì tương quan thấp. Ở mức áp lực nội sọ cao trên 20mmHg có sự tương quan chặt chẽ giữa chỉ số mạch đập và áp lực nội sọ.
Trần Hưng