[Đăng ngày: 06/06/2015]
Có nhiều công nghệ đã được áp dụng xử lý nước thải y tế, ví dụ công nghệ bể lọc sinh học. Để bể lọc sinh học làm việc có hiệu quả, cần phải có thời gian đưa bể vào hoạt động và tạo màng sinh vật trên bề mặt vật liệu lọc. Trong thời gian này, phải tưới nước đều với nhiệt độ trên 20 độ C. Thời gian một chu kỳ tưới từ 5-6 phút. Lưu lượng tưới tăng dần từ 0,1 đến 0,25 lưu lượng nước tính toán cho đến khi trong nước thải sau bể lọc xuất hiện nitơrat và hiệu suất xử lý ổn định. Sau đó tăng dần lưu lượng nước tưới cho đến khi đạt lưu lượng tính toán.
Đối với bể sinh học cần phải thường xuyên xem xét và tẩy rửa thiết bị phân phối nước; thường xuyên xem xét khoảng không ở đáy bể, các đường dẫn ống gió và máng thu nước; trong trường hợp bị tắc bể cần dùng nước sạch để không rửa bể. Loại trừ lớp bùn thối rữa trên bề mặt lớp vật liệu lọc bằng cách mở ra, rửa sạch và sau đó xếp lại. Thường xuyên bổ sung vật liệu thiếu hụt trong quá trình này; kiểm tra lượng không khí cấp vào bể, hiệu suất thông gió được xác định bằng cách phân tích các mẫu nước sau xử lý. Nếu trong mẫu nước có độ pH không giảm và hàm lượng oxy hòa tan không thay đổi thì sự thông gió cho bể là đảm bảo yêu cầu.
Nếu sự vận chuyển của nước thải và không khí qua lớp vật liệu lọc không ổn định thì cần phải lấy vật liệu ra xem xét, rửa sạch, kiểm tra cỡ hạt, bổ sung và xếp vào bể. Chế độ làm việc của bể lọc sinh học phải được kiểm tra, tối thiểu mỗi tháng hai lần bằng cách phân tích mẫu nước thải trước và sau khi xử lý.
Như vây, công tác tổ chức quản lý và giám sát hệ thống xử lý nước thải các cơ sở y tế cần hết sức chú ý. Các bệnh viện và cơ sở y tế phải có cán bộ kỹ thuật và nhân viên quản lý để vận hành trạm xử lý nước thải, số lượng nhân viên từ 1 đến 5 người, phụ thuộc vào công suất và công nghệ trạm xử lý nước thải. Cũng có thể bố trí kết hợp nhân viên quản lý vận hành lò đốt chất thải y tế với vận hành trạm xử lý nước thải.
Cán bộ kỹ thuật và nhân viên vận hành trạm xử lý nước thải bệnh viện phải được đào tạo tập huấn những kiến thức cần thiết về thiết bị, công nghệ xử lý nước thải và các điều kiện để trạm xử lý nước thải hoạt động bình thường. Số lượng và trình độ nhân viên của trạm được xác định dựa theo công suất và đặc điểm của công trình xử lý nước thải.
Công nhân quản lý trạm xử lý nước thải phải được hướng dẫn về quy trình vận hành các công trình, các nguyên tắc về an toàn lao động và phòng cháy chữa cháy, các biện pháp phòng ngừa và khắc phục sự cố.
Các cán bộ kỹ thuật của trạm xử lý nước thải bệnh viện có nhiệm vụ: bảo đảm chế độ làm việc bình thường của từng công trình và của toàn hệ thống; bảo đảm việc sữa chữa thường kỳ và sữa chữa lớn các công trình và thiết bị; theo dõi việc ghi sổ trực của công nhân vận hành công trình; lập các báo cáo kỹ thuật về quản lý công trình hàng tháng và hàng năm; bảo quản các hồ sơ kỹ thuật của tất cả các công trình, thiết bị bổ sung các hồ sơ này các tính năng kỹ thuật thay thế trong quá trình quản lý; tổ chức các lớp học nâng cao trình độ cho cán bộ kỹ thuật và nhân viên vận hành.
Hệ thống thoát nước và trạm xử lý nước thải bệnh viện phải được theo dõi thường xuyên và phải được sữa chữa kịp thời các hư hỏng khi phát hiện. Cần phải đo lưu lượng nước thải chảy về trạm xử lý hàng ngày và hàng giờ trong ngày bằng các phương pháp và thiết bị đo tư vấn thiết kế chỉ định như đập tràn, máng đo lưu lượng, thiết bị tự ghi liên tục áp lực trên mặt đập hay mực nước nóng trong máng.
Hiệu suất làm việc của từng công trình cũng như toàn hệ thống xử lý nước thải được xác định bằng cách so sánh thành phần nước thải trước và sau khi xử lý. Các chỉ tiêu cơ bản đặc trưng cho nước thải bệnh viện là :pH, chất rắn lơ lửng (mg/l), BOD5 (mg/L), nitơ amoni (mg/L), nitơ nitrat (mg/L), phốt phát (mg/L), dầu mỡ (mg/L), tổng colyform (MNP/100mg/L).
Hàng ngày người vận hành phải ghi tình hình hoạt động của bể vào sổ trực ca, hàng tuần phải phân tích các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả làm việc của hệ thống xử lý nước thải. Nước thải sau khi xử lý phải được quan trắc định kỳ, tối thiểu 3 tháng/lần. Các thông số quan trắc được chỉ rõ trong QCVN 28:2010/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế. Kết quả quan trắc phải được lưu giữ và báo cáo với cơ quan quản lý môi trường địa phương.
Tường Huân
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 196

Số lượt truy cập: 9360156

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang