
Chất thải hóa học nguy hại trong các cơ sở y tế bao gồm chất thải dược phẩm, chất hóa học nguy hại, chất gây độc tế bào và chất chứa kim loại nặng.
Chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng; dược phẩm bị đổ; vỏ lọ, ống kết nối chứa các dược phẩm nguy hại; dược phẩm bị nhiễm khuẩn; các loại huyết thanh, vắc xin sống giảm độc lực cần thải bỏ. Ngoài ra còn bao gồm các trang thiết bị, dụng cụ sử dụng trong việc xử lý dược phẩm như găng tay, mặt nạ…
Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế như Formaldehyde và các hóa chất khử khuẩn khác được sử dụng để làm sạch và khử trùng thiết bị, bảo quản mẫu vật, khử trùng chất thải lỏng lây nhiễm…Ngoài ra còn có các chất quang hóa học, các dung môi; các hóa chất vô cơ như các axit và kiềm…Chất gây độc tế bào như các thuốc gây độc có vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào, các lọ thuốc dư thừa sau sử dụng và các chất thải từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. Các chất gây độc tế bào có thể tồn tại trong nước tiểu, phân và chất nôn từ các bệnh nhân được xét nghiệm hoặc điều trị ít nhất 48 giờ cho đến 1 tuần sau khi tiêm thuốc. Các chất gây độc tế bào rất nguy hiểm có thể gây đột biến gen, quái thai và ung thư.
Chất thải chứa kim loại nặng là những hóa chất nguy hiểm, có độc tính cao ví dụ như thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị) hay một số loại thuốc có thể chứa thạch tín (As).
Các hành vi có nguy cơ mất an toàn, vệ sinh lao động bao gồm việc thu gom, phân loại, xử lý không đúng quy định như không có tủ theo quy định tại nơi chứa các chất thải hóa học dễ bay hơi, khu vực thu gom chứa các chất thải hóa học độc hại không cách ly với khu nhân viên làm việc, các thùng chứa chất thải không kín hoặc không đúng quy cách, chôn lấp không vệ sinh, lò đốt không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật….Nhân viên y tế thu gom, phân loại, xử lý chất thải hóa học không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân như găng tay, quần áo bảo hộ, khẩu trang, mặt nạ, bán mặt nạ…
Hậu quả gây nhiễm độc cấp tính nếu tiếp xúc ở nồng độ cao hoặc hít phải hơi độc, gây bỏng nếu tiếp xúc trực tiếp qua da, niêm mạc đường hô hấp hoặc bị bắn vào mắt, đặc biệt khi tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn như các chất khử trùng, các hóa chất gây phản ứng như formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác. Ngoài ra, khi lưu trữ một lượng lớn các chất thải hóa học dễ cháy, đặc biệt lưu trữ các chất thải hóa học dễ phản ứng cùng với nhau, nguy cơ cháy nổ rất lớn.
Đối với các nguy cơ từ chất thải phóng xạ gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động liên quan đến bệnh nhân trong quá trình sử dụng hạt nhân, phóng xạ để chẩn đoán và điều trị như các chất bài tiết (nước tiểu, phân), nước rửa tay; các đồ dùng cá nhân như cốc giấy, quần áo; các thiết bị thăm khám, điều trị như ống hút, kim tiêm, ống nghiệm…
Các hành vi có nguy cơ mất an toàn, vệ sinh lao động bao gồm thu gom, lưu trữ và tiêu hủy các chất thải phóng xạ không đúng quy định như không có hầm bê tông lưu giữ, nơi lưu giữ không cản được tia phóng xạ, để tràn chất thải phóng xạ ra ngoài, thời gian lưu trữ quá ngắn; để mất nguồn phóng xạ khi lưu giữ…Không sử dụng hoặc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân không đúng tiêu chuẩn (găng tay chì, tạp dề chì…) khi thu gom, xử lý chất thải phóng xạ.
Những hành vi không an toàn có thể dẫn đến hậu quả gây bệnh phóng xạ cấp tính hoặc mạn tính, tổn thương phóng xạ cục bộ; tổn thương hệ thống tạo máu, giảm bạch cầu, suy nhược tủy; gây đột biến gen, ung thư; gây ô nhiễm phóng xạ ra môi trường (nước thải); nếu mất nguồn phóng xạ có thể gây sự cố phóng xạ.
Ngoài ra, các bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung cũng là chất dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt hay bị thủng. Một bình khí nén phát nổ có ảnh hưởng phá hủy như một quả bom; khí nén được sử dụng trong bệnh viện bao gồm acetylene, ammonia, khí gây mê, argon, chlorine, ethylene oxite, helium, hydrogen, methyl chloride, nitrogen và sulfur diô xyde. Acetylene, ethylene ô xyde, methyl chlotide, hydrogen và cả những chất gây mê như cyclopropane, ethyl chloride và ethylene…đều là những chất dễ cháy. Mặc dù oxy và ôxit nitơ được dán nhãn là chất không dễ cháy, nhưng khi chúng bị ôxy hóa thì lại dễ bắt lửa.
Hành vi có nguy cơ mất an toàn, vệ sinh lao động như không tuân thủ quy định an toàn lao động về quản lý chất thải là bình chứa áp suất mà vứt bừa bãi thì có thể gây cháy nổ, bỏng, chấn thương cơ học.
Nguyễn Phương