.jpg)
Đối với biện pháp thông khí cơ học bao gồm quạt thông gió có thể như quạt trần, quạt đứng, quạt tường…; chiếu tia cực tím; hệ thống hút không khí bằng cách hút không khí ô nhiễm ra khỏi phòng và bơm không khí sạch vào phòng; hệ thống lọc không khí bằng cách lấy không khí trong phòng, lọc bỏ vô khuẩn và bơm lại vào phòng.
Các chuyên gia bệnh lao cho biết mục đích các biện pháp bảo hộ hô hấp cá nhân là hỗ trợ tăng cường mức độ bảo vệ cho nhân viên y tế ở các khu vực có biện pháp kiểm soát hành chính và môi trường không đủ đảm bảo giảm nồng độ của vi khuẩn lao. Không thể thay thế cho các biện pháp kiểm soát hành chính và môi trường. Sử dụng khẩu trang chuyên dụng có thể lọc khí tốt hơn và hoàn toàn vừa khít với khuôn mặt, tránh lọt khí xung quanh viền khẩu trang.
Các chuyên gia cho rằng loại khẩu trang N95 phù hợp cho kiểm soát nhiễm khuẩn lao. N95 lọc được 95% hạt khí dung có kích thước từ 0.3µm. Đôi khi, một số khu vực hoặc thủ thuật có thể cần loại có mức bảo vệ cao hơn như kích thích đờm, nội soi phế quản, giải phẫu tử thi.
.jpg)
ThS Nguyễn Thế Tài – Phó Giám đốc Bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh cho biết 5 bước quản lý bệnh nhân để dự phòng lây nhiễm lao tại các cơ sở chăm sóc HIV là (1) Sàng lọc: Nhận biết sớm những bệnh nhân nghi lao. Những bệnh nhân ho kéo dài trên 2 tuần hoặc đang được sàng lọc chẩn đoán hoặc điều trị lao cần được ưu tiên khám hoặc nhận dịch vụ ngay mà không phải xếp hàng cùng với những bệnh nhân khác. (2) Giáo dục: Chỉ dẫn những bệnh nhân ho về vệ sinh ho bằng cách che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và nếu có thể thì cung cấp khẩu trang hoặc khăn giấy để giúp họ che miệng. (3) Cách ly: Những bệnh nhân nghi mắc lao hoặc bị bệnh lao cần được cách ly khỏi những bệnh nhân khác và yêu cầu đợi ở khu chờ thông thoáng riêng biệt, cấp phát cho họ khẩu trang phẫu thuật hoặc khăn giấy để che miệng và mũi trong khi chờ đợi. (4) Cung cấp dịch vụ về HIV: Ưu tiên đưa bệnh nhân có triệu chứng nghi lao lên đầu hàng và đáp ứng ngay những dịch vụ mà họ cần (ví dụ tư vấn xét nghiệm HIV, lĩnh thuốc…) để làm giảm thời gian những người khác phơi nhiễm với họ. Tại các cơ sở cung cấp dịch vụ lồng ghép, nếu có thể cần đáp ứng những dịch vụ HIV mà họ cần trước khi thăm dò chẩn đoán lao. (5) Xét nghiệm chẩn đoán lao hoặc chuyển tuyến: Các xét nghiệm chẩn đoán lao cần được tiến hành tại cơ sở HIV, nếu không có, cần thiết lập mối liên hệ với cơ sở cung cấp dịch vụ lao để chuyển tuyến những bệnh nhân có triệu chứng nghi lao hoặc những bệnh nhân được chẩn đoán lao đến để chẩn đoán và điều trị.
Kiểm soát lây nhiễm bệnh lao bao gồm 3 biện pháp sắp xếp theo thứ tự ưu tiên: biện pháp kiểm soát về hành chính, biện pháp kiểm soát về môi trường và bảo vệ hô hấp cá nhân. Biện pháp kiểm soát lây nhiễm về hành chính là quan trọng nhất có thể đảm bảo: Phát hiện sớm – Cách ly sớm – Điều trị sớm. Thực hiện kiểm soát lây nhiễm lao tại các cơ sở chăm sóc HIV cũng tuân theo các biện pháp kiểm soát lây nhiễm lao chung, chủ yếu tập trung vào 2 biện pháp chính là kiểm soát hành chính và môi trường. Phòng chống lây nhiễm lao có thể phòng ngừa hiệu quả việc lây nhiễm bệnh lao và lao kháng thuốc cho nhân viên y tế, các bệnh nhân khác, đặc biệt là bệnh nhân HIV.
.png)
Theo ThS Nguyễn Thế Tài – Phó Giám đốc Bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh, người mắc lao ho khạc khiến các hạt mù dưới 5 µm chứa vi khuẩn lao lơ lửng trong không khí mang vi khuẩn; người tiếp xúc hít phải những hạt mù có vi khuẩn lao này. Vi khuẩn lao sẽ nhân đôi trong các phế nang của phổi. Trong 2-8 tuần, cơ thể có đáp ứng miễn dịch tế bào, tạo ra lớp kiểm soát vi khuẩn lao. Miễn dịch cơ thể kiểm soát được quá trình vi khuẩn lao nhân đôi. Ở giai đoạn nhiễm lao tiềm ẩn này không lây nhiễm, không có triệu chứng. Nếu người bệnh đi xét nghiệm sẽ được chẩn đoán, điều trị ngăn chặn sự phát triển thành bệnh lao với hiệu quả lên đến 90%.
Khi hệ thống miễn dịch tế bào không kiểm soát được vi khuẩn lao, vi khuẩn lao tiếp tục nhân đôi; lúc này bệnh lao lây nhiễm được cho người khác, bệnh nhân có triệu chứng của bệnh lao, cần xét nghiệm chẩn đoán, điều trị và tuân thủ tốt điều trị.
ThS Tài cho biết, trong các hạt khí dung có vi khuẩn lao; khi bệnh nhân lao hắt hơi bắn ra khoảng 4.500 – 1 triệu vi khuẩn lao, khi ho có khoảng 3.500 vi khuẩn lao; khi nói khoảng 200 vi khuẩn lao. Những hạt nước bọt này bắn vào không khí, bay lơ lửng, tồn tại từ vài giờ đến 24 giờ. Nếu gặp ánh nắng chiếu trực tiếp, vi khuẩn lao sẽ chết trong vòng 5 phút, còn trong bóng râm và tối vi khuẩn lao có thể sống rất lâu.
Có khoảng 10% người nhiễm lao sẽ phát triển thành bệnh lao, nhất là trong những năm đầu sau khi nhiễm. Các yếu tố ảnh hưởng làm tăng nguy cơ mắc bệnh là tình trạng nặng của người bệnh; môi trường nơi phơi nhiễm; thời gian phơi nhiễm; độc lực của vi khuẩn và tình trạng miễn dịch của người nhận.
Nếu không được điều trị, có 25% tự khỏi; 25% tiến triển thành lao mãn; 50% sẽ chết. Trong trường hợp người mắc bệnh lao nhiễm HIV 100% sẽ chết nếu không được điều trị bệnh lao. Một người nhiễm HIV có nguy cơ mắc bệnh lao lên đến 50%. Các chuyên gia lao phổi cho rằng có khoảng 50% số bệnh nhân lao/HIV là lao ngoài phổi như tràn dịch màng phổi; lao hạch; ngoại tâm mạc, lao màng não. Như vậy lao ở phổi vẫn là thể lao phổi phổ biến nhất.
Đức Bảo