Theo BSCK2 Nguyễn Bá Mỹ Nhi, việc tư vấn cho phụ nữ chọn được biện pháp tránh thai tối ưu là vấn đề hết sức đáng quan tâm.
.jpg)
BS Mỹ Nhi đưa ra ca lâm sàng, một phụ nữ 30 tuổi, 1 con, nhân viên văn phòng, đang sử dụng thuốc uống viên tránh thai kết hợp COCs từ trước khi có thai và sử dụng lại sau khi ngừng cho con bú. Hài lòng về COCs vì kinh đều, không bị thống kinh; đặc biệt muốn có con trong 1-2 năm tới, lo ngại sử dụng lâu dài COCs sẽ gây những tác dụng phụ như ảnh hưởng khả năng có con sau này, tăng nguy cơ ung thư vú; như vậy cán bộ y tế cần phân tích, tìm hiểu những lo lắng hiện tại của người phụ nữ khi chọn lựa biện pháp tránh thai; đánh giá các yếu tố nguy cơ và biểu hiện có để chọn lựa biện pháp tránh thai phù hợp; cung cấp thông tin để giải quyết những hiểu lầm hoặc thắc mắc cho khách hàng.
BS Mỹ Nhi cho biết có nhiều biện pháp tránh thai được sử dụng hiện nay, tỷ lệ thất bại phụ thuộc từng loại biện pháp tránh thai. Cụ thể như que cấy tránh thai có tỷ lệ thất bại tối đa là <0,1%; biện pháp triệt sản nam 0,1%; triệt sản nữ 0,5%; sử dụng vòng tránh thai Tcu 0,6%; thuốc tiêm tránh thai (thuốc viên, miếng dán) có tỷ lệ thất bại 0,3%; bao cao su có tỷ lệ thất bại khoảng 2%; áp dụng xuất tinh ngoài âm đạo tỷ lệ thất bại 4%; biện pháp quan hệ tình dục tránh ngày nguy cơ là 5%; thuốc diệt tinh trùng là 18%.

Bất kỳ phụ nữ khi sử dụng biện pháp tránh thai thường mong muốn đạt 100% về hiệu quả là không có thai ngoài ý muốn; 100% an toàn, không ảnh hưởng sức khỏe; 100% dung nạp tốt, không có hoặc có tác dụng phụ ở mức tối thiểu. Biện pháp tránh thai phải kiểm soát được về thời gian, trên cơ địa bệnh nhân; không ảnh hưởng đến bạn tình và chi phí phù hợp. Người phụ nữ có những nhận định về các biện pháp tránh thai hiện đại như sử dụng biện pháp tránh thai sẽ bị vô sinh, không có con; thuốc viên tránh thai có tác dụng phụ buồn nôn, nôn và tăng cân; xuất hiện mụn trứng cá; chu kỳ kinh nguyệt bất thường; đặt vòng tránh thai có thể gây rối loạn kinh nguyệt, nhiễm trùng; dùng thuốc tránh thai lâu ngày dễ bị ung thư và khối u ở bụng.

BS Mỹ Nhi chia sẻ nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng biện pháp tránh thai không gây ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của người phụ nữ; không gây ảnh hưởng xấu đối với tỷ lệ có thai khi ngừng sử dụng viên thuốc tránh thai; đối với sau khi dừng thuốc tránh thai chỉ có 0,7% vô sinh thứ phát; tỷ lệ vô sinh nguyên phát ở phụ nữ không dùng thuốc viên tránh thai kết hợp là 0,27%; còn có sử dụng là 0,6%. Các nghiên cứu cũng cho thấy sử dụng thuốc viên tránh thai kết hợp không làm tăng cân đáng kể, sự tăng cân chỉ liên quan đến chế độ ăn và mức độ tập thể dục thể thao; đồng thời phụ nữ thường tăng cân theo tuổi. Viên tránh thai kết hợp có thành phần DRSP giúp hạn chế tăng cân do giữ nước; đồng thời viên tránh thai kết hợp làm giảm tổn thương viêm đối với những trường hợp bị mụn trứng cá. Đối với phương pháp sử dụng que cấy chứa efonorgestrel có 11% bệnh nhân có mụn trứng cá sau khi đặt.
Đối với đặt dụng cụ tránh thai IUD, kết quả nghiên cứu cho thấy sau 20 ngày đặt dụng cụ tử cung nguy cơ nhiễm trùng vùng chậu là 9,7%; sau 8 năm tỷ lệ này giảm còn 1,4%. BS Mỹ Nhi lưu ý nhiễm trùng vùng chậu có liên quan đến nguy cơ của nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Sử dụng biện pháp dụng cụ tránh thai IUD không làm tăng nguy cơ thai kỳ lạc chỗ; còn đối với các biện pháp triệt sản, que cấy chỉ progestin, viên uống chỉ progestin tỷ lệ thai kỳ lạc chỗ cao hơn so với dân số chung.
BS Mỹ Nhi cho biết, phụ nữ sử dụng thuốc viên tránh thai kết hợp hiếm khi có biến cố về tim mạch như thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch; kết quả nhiều nghiên cứu cũng cho thấy sử dụng viên tránh thai kết hợp rất ít hoặc không có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú; hoặc nếu có tăng nguy cơ thì nguy cơ này không còn sau 10 năm không sử dụng thuốc viên tránh thai kết hợp nữa. Đối với nguy cơ ung thư cổ tử cung; BS Mỹ Nhi lưu ý tình trạng nhiễm virút u nhóm HPV kéo dài, việc quan hệ tình dục nhiều bạn tình, quan hệ tình dục không sử sụng bao cao su trên phụ nữ có sử dụng viên tránh thai kết hợp; do vậy cần phòng tránh sự lây nhiễm của HPV. Đối với ung thư buồng trứng, sử dụng thuốc viên tránh thai làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, thậm chí giảm kéo dài sau 28 năm ngừng thuốc. Đối với ung thư nội mạc tử cung, các nghiên cứu cho thấy giảm nguy cơ được 50% so với những phụ nữ không sử dụng thuốc viên tránh thai; sử dụng thuốc viên tránh thai càng lâu càng giảm được nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.
BS Mỹ Nhi báo cáo, thuốc nội tiết tránh thai có hiệu quả tránh thai cao; phòng ngừa được thống kinh, cường kinh, chu kỳ kinh bất thường; mụn trứng cá, tăng bã nhờn; đau do lạc nội mạc tử cung; giúp phòng loãng xương; thai ngoài tử cung, u nang buồng trứng, bệnh lành tính tuyến vú; ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung và ung thư đại trực tràng.
Cán bộ y tế cần chia sẻ, tư vấn với khách hàng về nhận thức đúng các biện pháp tránh thai, những nguy cơ có thật, không có thật đối với sức khỏe; những ảnh hưởng, vấn đề chính, mong muốn của người phụ nữ để sử dụng một biện pháp tránh thai phù hợp; cung cấp cho khách hàng thông tin thích hợp, chọn lựa được một phương pháp tránh thai có sẵn; hỗ trợ tư vấn, thời gian để xử trí những vấn đề có thể gặp phải từ đó giúp người phụ nữ tuân thủ biện pháp tránh thai đã chọn lựa.
Dụng cụ tránh thai (IUD) là một chiếc cầu dẻo có 2 nhánh và một dây xoắn; đặt vào tử cung để tránh thai. Có 5 loại, một loại bằng đồng và 4 loại dụng cụ có hormon progestin. IUD không bảo vệ được sự lây truyền các bệnh qua đường tình dục, vì vậy cần sử dụng bao cao su ngay cả khi đã đặt IUD.
Trần Hưng