[Đăng ngày: 10/09/2018]
Tại Hội nghị Phụ sản miền Trung – Tây Nguyên mở rộng lần thứ 7 được tổ chức tại thành phố Nha Trang vào tháng 8/2018, tác giả Lương Ngọc Trang cùng cộng sự Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Thanh Hóa báo cáo đề tài “Kết quả đánh giá quy trình chất lượng chăm sóc sơ sinh tại một số cơ sở y tế thuộc tỉnh Thanh Hóa năm 2016-2017”.

Theo tác giả nghiên cứu, cán bộ y tế làm công tác chăm sóc sơ sinh thiếu cả về số lượng và chất lượng. Theo báo cáo điều tra của Vụ Sức khỏe sinh sản, Bộ Y tế năm 2010 thì số bác sĩ sơ sinh thiếu cả ở tuyến tỉnh và huyện, đặc biệt ở tại xã chỉ có các y sỹ sản nhi hoặc nữ hộ sinh làm công tác chăm sóc sơ sinh. Một số nghiên cứu gần đây ở trong nước cho thấy kiến thức và chăm sóc sơ sinh của cán bộ y tế tuyến tỉnh, huyện và xã còn thiếu hụt rất nhiều, đặc biệt là các cấp cứu sơ sinh như cấp cứu ngạt, chống nhiễm trùng, chăm sóc ngay sau sinh như cho trẻ bú ngay sau sinh 30 phút, rửa mắt, làm sạch đường thở ngay sau sinh. Đặc biệt những thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng chăm sóc sơ sinh khác nhau rất lớn giữa các tuyến y tế, giữa các cán bộ y tế.

Văn bản “Hướng dẫn tổ chức thực hiện đơn nguyên sơ sinh và góc sơ sinh tại các huyện y tế” của Bộ Y tế ban hành năm 2011 là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa Chỉ thị 04/BYT-CT về “tăng cường chất lượng chăm sóc và giảm tử vong sơ sinh” trong toàn quốc. Để có thể thực hiện được các can thiệp nhằm cứu sống trẻ sơ sinh thì sự sẵn có nguồn nhân lực là đặc biệt quan trọng. Trong điều kiện hiện nay, việc đào tạo cán bộ y tế tại Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ.

Seven Tools – 7 công cụ quản lý chất lượng, được nước Nhật chọn và ứng dụng sau chiến tranh thế giới thứ hai, sau đó áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là Châu Âu. Có thể khẳng định rằng việc cải tiến chất lượng sẽ không có hiệu quả như mong muốn nếu không áp dụng các công cụ thống kê. Thế nhưng, công cụ thống kê có tới hàng trăm công cụ thì việc áp dụng công cụ nào là phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của cơ sở y tế. Việc áp dụng QA (Quality Assurance – Đảm bảo chất lượng) và QC (Quality Control – Quản lý chất lượng) trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa có một nghiên cứu cụ thể nào. Tác giả Lương Ngọc Trang thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá quy trình quản lý chất lượng chăm sóc sơ sinh tại một số cơ sở y tế thuộc tỉnh Thanh Hóa năm 2016-2018 với mục tiêu : Đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện quy trình quản lý chất lượng chăm sóc sơ sinh tại một số cơ sở y tế thuộc tỉnh Thanh Hòa.

Tác giả nghiên cứu lưu ý kết quả bước đầu của nghiên cứu sẽ gợi mở và đề xuất bổ sung công cụ cho quản lý chất lượng các dịch vụ y tế nói chung và chăm sóc sơ sinh nói riêng mà Bộ Y tế đang có chủ trương triển khai trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu là các cán bộ y tế tuyến cơ sở (bệnh viện huyện và trạm y tế xã) tại 4 huyện. Tại Bệnh viện đa khoa huyện bao gồm các bác sỹ, hộ sinh, y sỹ sản nhi, điều dưỡng sản tại các khoa khám bệnh, khoa nhi, khoa cấp cứu, khoa sản. Tại Trạm y tế bao gồm các bác sỹ, y sỹ sản nhi, hộ sinh, điều dưỡng.

Địa bàn nghiên cứu gồm: miền núi huyện Quan Sơn, Thường Xuân, đồng bằng huyện Thọ Xuân, Yên Định, địa bàn can thiệp huyện Quan Sơn, Thọ Xuân.

Tác giả nghiên cứu báo cáo kết quả nghiên cứu cho thấy, sai sót trong tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, sai sót tư thế trẻ, tư thế thao tác, sai sót tần suất và thời gian theo dõi bé sau can thiệp tăng so với trước can thiệp, sai sót khâu vô khuẩn, chuẩn bị dụng cụ và trình tự lau khô bé được cải thiện đáng kể sau can thiệp.

Sau can thiệp tỷ lệ sai sót tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, sai sót khâu vô khuẩn, sai sót tư thế trẻ, sai sót tư thế thao tác, sai sót chuẩn bị dụng cụ đều giảm so với trước can thiệp, dao động từ 9,84% đến 16,39%.

Tuy nhiên sau can thiệp vẫn có một số loại sai sót không được cải thiện. Các loại sai sót như sai sót vị trí vỗ trên lưng trẻ giảm từ 16,67% xuống 14,84%, sai sót tư thế đặt trẻ ngay sau khi phát hiện trẻ sặc sữa giảm từ 14,1% xuống còn 12,96%, sai sót hút sạch vùng mũi và họng của trẻ giảm từ 15,38% xuống còn 14,81%.

Tại Quan Sơn, sai sót quy trình sặc sữa hầu hết được cải thiện sau can thiệp. Các tỷ lệ sai sót sau can thiệp dao động từ 14,93% đến 17,91%.

Các hành vi như ăn kiêng, cho bú theo giờ được cải thiện tốt nhất sau can thiệp (giảm từ 8,08% còn 3,57%). Các sai sót khác cải thiện ít hơn như sai sót gọi hỏi, sai sót nơi tư vấn, sai sót về hướng dẫn vệ sinh vú hàng ngày.

Có những sai sót không được cải thiện như giải thích cơ chế tiết sữa (tăng từ 13,27% lên 14,1% sau can thiệp) và sai sót nơi tư vấn (tăng từ 11,5 % lên 12,82% sau can thiệp). Sai sót hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật cho con bú đúng giảm đi đáng kể, từ 7,69% trước can thiệp còn 6,41% sau can thiệp.

Tác giả nghiên cứu có kết luận và kiến nghị, các khiếm khuyết sai sót sau can thiệp tương đối được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều sai sót không được cải thiện mà còn tăng so với trước can thiệp. Điều này tác giả Ngọ Trang giải thích là do các ca cung cấp dịch vụ khác nhau, đặc thù mỗi cặp mẹ con khác nhau; Cán bộ y tế được cải thiện lý thuyết nhưng đến khi thực hành vẫn mắc sai sót cũ do thói quen. QA, QC hầu như chưa được áp dụng trong y tế Việt Nam là một khó khăn trong việc thực hiện nghiên cứu này. Hơn nữa chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam được thực hiện trước đây để rút kinh nghiệm và học tập. Tuy nhiên, nghiên cứu này được tiến hành rất nghiêm túc và thận trọng, đưa ra kết quả đánh giá quy trình chất lượng phản ánh đúng với thực tế về quy trình quản lý chất lượng chăm sóc sơ sinh tại một số cơ sở y tế thuộc tỉnh Thanh Hóa năm 2016-2017.

Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 185

Số lượt truy cập: 9289336

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang