(1).jpg)
Sử dụng nước sạch là một vấn đề Y tế công cộng trên thế giới. Việc sử dụng nước không sạch đã và đang gây những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe người dân. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có 1,5 triệu ca tử vong do bệnh tiêu chảy, 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột vì thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân kém. Gần 1/10 gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới có thể được ngăn ngừa bằng cách cải thiện cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và quản lý nguồn nước.
Ở Việt Nam, Chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm bảo đảm cho tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Tuy nhiên, một cuộc điều tra mới đây về tình hình vệ sinh môi trường cho thấy rằng 52% dân cư nông thôn có phương tiện vệ sinh môi trường nói chung, song chỉ có 18% trong số họ được sử dụng nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT.
Trong thời gian năm 2013 – 2014, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thị Thanh Xuân cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Thực trạng sử dụng nước sạch hộ gia đình ở 8 tỉnh Việt Nam”. Nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn chủ hộ gia đình, quan sát nguồn nước hộ gia đình được phỏng vấn. Tổng cộng có 3600 hộ gia đình tại 8 tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng Bình, Bình Thuận, Gia Lai, Bình Dương, Cần Thơ tham gia nghiên cứu.
Tác giả Lê Thị Thanh Xuân báo cáo phân tích, sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh là yếu tố quan trọng đảm bảo sức khỏe cho mỗi người dân. Vì vậy, câu hỏi đầu tiên mà tác giả quan tâm trong nghiên cứu này là hộ gia đình ở địa phương nghiên cứu hay sử dụng nguồn nước nào để ăn uống và sinh hoạt? Nguồn nước đó có hợp vệ sinh hay không?
Yếu tố môi trường, đặc biệt là nước sạch có vai trò to lớn trong việc lây lan của các bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng, nó giúp phát tán các tác nhân gây bệnh ra ngoài môi trường, làm tăng khả năng tiếp xúc của con người, con vật với yếu tố nguy cơ. Cải thiện nguồn nước cũng như điều kiện vệ sinh môi trường chính là làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh để ăn uống và sinh hoạt chiếm tỷ lệ 83,5%. Như vậy tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch thấp hơn so với mục tiêu đến năm 2010: 85,0% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 25/08/2000 ở “Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020. Điều này có thể là do ở địa bàn nghiên cứu, nhất là một số tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Yên Bái) và Tây Nguyên là nơi tập trung của nhiều dân tộc, việc tuyên truyền thay đổi thói quen của người dân còn gặp nhiều khó khăn.
Về các nguồn nước dùng cho ăn uống, người dân sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh là nước giếng khơi/giếng đào, chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,0%. Chỉ có gần 1/3 người dân dùng nước máy (29%).
Về mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân đến tỷ lệ nguồn nước hợp vệ sinh của các hộ gia đình. Kết quả cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước không hợp vệ sinh với dân tộc, nghề nghiệp và TĐHV của đối tượng nghiên cứu (p < 0,05). Đối tượng tham gia nghiên cứu thuộc người dân tộc khác có nguy cơ sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh cao hơn 2,47 lần so với các hộ dân tộc Kinh. Người làm nghề nông và người có TĐHV dưới THCS cũng có nguy cơ sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh cao hơn so với người khác theo thứ tự gấp 4,33 và 2,33 lần.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước hợp vệ sinh với nhóm tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu (p > 0,05).
Tác giả báo cáo mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước không hợp vệ sinh với kinh tế hộ gia đình (p < 0,05). Hộ gia đình thuộc hộ nghèo có nguy cơ sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh cao hơn 2,08 lần so với các hộ không nghèo.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước hợp vệ sinh với quy mô của hộ (p > 0,05).
Tác giả nghiên cứu có kết luận, tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 83,5%. Tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh cao nhất là tỉnh Bình Dương (100%) và thấp nhất là tỉnh Gia Lai (20,4%) và tỉnh Yên Bái (54,8%).
Những hộ gia đình nghèo, người dân tộc khác, làm nghề nông và học vấn dưới THCS có nguy cơ sử dụng nước sạch không hợp vệ sinh cao hơn so với những hộ gia đình khác. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Anh Huy