Thiếu năng lượng trường diễn và thiếu máu là vấn đề thời sự, có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng quan trọng ở các nước nghèo, nước đang phát triển, đặc biệt là nhóm có nguy cơ cao như phụ nữ tuổi sinh đẻ, phụ nữ có thai.
Thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ gây giảm năng suất lao động, tăng nguy cơ biến chứng cho mẹ con khi sinh như mẹ dễ bị các tai biến sản khoa, cân nặng của trẻ sơ sinh thấp.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, Việt Nam đang có sự gia tăng khu công nghiệp, đặc biệt lực lượng chủ yếu là công nhân nữ. Thực tế số liệu về tình trạng dinh dưỡng của nữ công nhân chưa có nhiều và các can thiệp giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe công nhân, nữ công nhân. Từ năm 2011, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra kiến nghị bổ sung sắt dự phòng gián đoạn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở những khu vực có tỷ lệ thiếu máu trên 20%.
Từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thúy Nga cùng cộng sự Viện dinh dưỡng, Bộ Y tế thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu và kiến thức thực hành phòng chống thiếu máu của phụ nữ công nhân tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh” Đối tượng nghiên cứu là các nữ công nhân từ 18-45 tuổi đang làm việc tại 3 nhà máy công nghiệp tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh gồm Công ty May xuất khẩu, Công ty sản xuất đồ nội thất và Công ty giày xuất khẩu. Đối tượng nghiên cứu là những người không có thai, không đang cho con bú, đồng ý tham gia nghiên cứu, không mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính hoặc mạn tính. Tác giả cho biết thiếu năng lượng trường diễn khi BMI< 18,5; độ 1 BMI khoảng 17-18,4; Độ 2 BMI khoảng 16-16,9 và độ 3 khi BMI <16,0. Khi BMI ≥25 là thừa cân béo phì.
Tác giả nghiên cứu báo cáo có 324 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tỷ lệ nữ công nhân bị thiếu năng lượng trường diễn độ 2 và độ 3 tương ứng là 2,1% và 0,3%. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu dưới 35% bị thiếu năng lượng trường diễn là 15,1% cao gấp 2 lần so nhóm trên 35 tuổi là 6,5% (p < 0,05). Ngược lại tỷ lệ thừa cân béo phì ở nhóm trên 35 tuổi là 20,7%, cao gấp 2 lần so với nhóm dưới 35 tuổi (10,3%). Đối với nhóm đối tượng nghiên cứu chưa kết hôn thiếu năng lượng trường diễn là 25,9% cao gấp hơn 3 lần so với nhóm đã kết hôn (7,9%) (p < 0,05). Tỷ lệ thừa cân béo phì đối tượng nghiên cứu chưa kết hôn là 7,1%, thấp hơn 2 lần so với nhóm đã kết hôn (15,5%).
Đối với tỷ lệ thiếu máu chung của đối tượng nghiên cứu là 20,7%, trong đó thiếu máu ở mức độ nhẹ 18,8%, mức trung bình là 1,9%, không có trường hợp nào thiếu máu ở mức nặng.
Tác giả nghiên cứu cho biết, theo kiến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2011 cần bổ sung sắt dự phòng gián đoạn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở những khu vực có tỷ lệ thiếu máu trên 20%. Trong kết quả nghiên cứu, tác giả phân tích với kết quả tỷ lệ thiếu máu 20,7% của đối tượng nghiên cứu, giải pháp đề ra là giáo dục truyền thông để thực hành cải thiện tình trạng thiếu máu. Giải pháp uống bổ sung viên sắt folic chỉ nên tính đến khi có sự giám sát chặt chẽ về tình trạng thiếu máu của hệ thống y tế.

Trong nghiên cứu, kiến thức, hiểu biểt của đối tượng nghiên cứu về thiếu máu chưa tốt, đặc biệt là cách phòng chống thiếu máu bằng cách sử dụng các thực phẩm bổ sung vi chất và tẩy giun định kỳ (< 50%). Đối tượng nghiên cứu nhận được thông tin về phòng chống thiếu máu chủ yếu qua tivi, internet, gia đình, bạn bè. Nguồn thông tin nữ công nhân ít tiếp cận nhất về phòng chống thiếu máu là từ đồng nghiệp, công đoàn nhà máy, y tế nhà máy. Tác giả kiến nghị cần có giải pháp tích cực hơn chăm lo sức khỏe cho công nhân nữ tại các nhà máy khu công nghiệp.
Trong nghiên cứu, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng hoặc đang uống viên sắt – axit folic là 64,2% lý do uống chủ yếu có thai, một số khác được bác sĩ chẩn đoán bệnh lý thiếu máu với biểu hiện hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi (25,5%0, chỉ số 13% là uống bổ sung viên sắt định kỳ. Nguồn thuốc chủ yếu mua từ cơ sở y tế, hiệu thuốc tư nhân 63%; có 35% được cung cấp khi có thai.
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tẩy giun trong 6 tháng qua chỉ đạt 24,7%. Kết quả chung, việc thực hành phóng chống thiếu máu ở đối tượng nghiên cứu chưa tốt, đa số khi có thai khám được bác sĩ kê đơn uống viên sắt chứ đối tượng nghiên cứu chưa chủ động uống bổ sung viên sắt định kỳ. Tác giả nghiên cứu lý giải có thể do chương trình phòng chống thiếu máu thời gian qua triển khai tập trung nhóm đối tượng nguy cơ là trẻ em, phụ nữ có thai mà chưa hướng tới nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Tường Huân