Thực trạng kháng kháng sinh hiện nay đã trở thành vấn đề toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển với các bệnh truyền nhiễm chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu bệnh tật.
Các bệnh truyền nhiễm quan tâm là nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, đường hô hấp, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhiều bệnh hiện nay bắt buộc phải thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới đắt tiền. Việc kiểm soát các loại bệnh này đã và đang chịu sự tác động bất lợi của sự phát triển và lan truyền tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn.
Từ tháng 7-9/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đinh Vạn Trung cùng cộng sự bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thực hiện báo cáo nghiên cứu “Sự đề kháng của một số vi khuẩn Gram âm đối với các kháng sinh thường dùng trong bệnh viện”. Đối tượng nghiên cứu là 373 mẫu xét nghiệm vi khuẩn trên các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Đây là nghiên cứu tiến cứu, mô tả, thực hành labo tại khoa vi sinh vật bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, các vi khuẩn gram âm gây bệnh thường gặp tại các bệnh viện là E.Coli, K.pneumoniae, P.aeruginosa, A.baumanii. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ kháng cephalosphorin thế hệ 3, 4 của E. Coli phân lập được dao động trong khoảng 40-61,5%. Đối với các quinolone tỷ lệ kháng cao là ciprofloxacim với tỷ lệ 33,3%; nghiên cứu không tìm thấy sự đề kháng với nhóm carbapenem. Các chủng K.pneumoniae có tỷ lệ kháng cao với các kháng sinh thông thường như quinolone, cephalosporin thế hệ 3. Tỷ lệ kháng với imipenem là 9,4% và meropenem là 6,5%.
Tác giả nghiên cứu lưu ý thường ở bệnh viện càng lớn, tỷ lệ vi khuẩn sinh ESBL (Extended Spectrum B-lactamase) càng tăng cao và tỷ lệ vi khuẩn sinh ESBL cũng tăng dần theo từng năm. Kết quả trong nghiên cứu, sinh ESBL vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây gia tăng đề kháng kháng sinh nhóm β-lactam ở những vi khuẩn gram âm, đặc biệt là E.Coli và K.pneumoniae. Qua phân tích, tỷ lệ vi khuẩn E.Coli sinh ESBL là 55,5%; K.pneumoniae sinh ESBL là 35,4%. Một nghiên cứu thực hiện ở Tây Âu, Bắc Âu trong tổng số 433 chủng vi khuẩn phân lập được có 25% chủng Klebsiella spp mang ESBL.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, tình trạng kháng kháng sinh của P.aeruginosa có tỷ lệ kháng cao với hầu hết các kháng sinh thường dùng trong bệnh viện. Các kháng sinh chuyên điều trị trực khuẩn mủ xanh như cefepime, amikacin có tỷ lệ đề kháng lần lượt là 36,7% và 22,7%. Tác giả cho rằng vi khuẩn A.baumannii luôn được cho là có liên quan đến nhiễm trùng. Trong những năm gần đây, vi khuẩn A.baumannii đứng hàng thứ sáu trong các căn nguyên thường gặp nhất tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Về tỷ lệ nhạy cảm với kháng sinh của A.baumannii, có tỷ lệ đề kháng cao với hầu hết các kháng sinh, đặc biệt là với nhóm Carbapenem như imipenem với 40%, meropenem 39,1%, đối với colistin nghiên cứu chưa phát hiện có sự đề kháng.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, một khó khăn của công tác chống kháng thuốc của ngành y tế là tại các bệnh viện, năng lực hệ thống xét nghiệm vi sinh còn yếu, cả về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cũng như về cơ sở vật chất. Một vấn đề khác là chất lượng kháng sinh lưu thông trên thị trường chưa được kiểm soát chặt chẽ, việc sử dụng kháng sinh giá rẻ, không kiểm soát được chất lượng nên hiệu quả điều trị giảm, số ngày điều trị kéo dài, điều này làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc. Một vấn đề cần làm là tăng cường đào tạo bác sĩ vi sinh tại các trường đại học Y khoa; phấn đấu đến năm 2020 không còn tình trạng bán kháng sinh không có đơn; tại địa phương, Sở Y tế cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các nhà thuốc tư nhân bán thuốc, tại các bệnh viện tăng cường tốt hơn hoạt động dược lâm sàng, tổ chức thực hiện thí điểm mô hình “vi sinh lâm sàng” tại các bệnh viện tuyến cuối, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về sử dụng kháng sinh hợp lý trong nhân viên y tế và cộng đồng.
Tại các bệnh viên nhóm chuyên trách đi buồng bệnh, giám sát việc sử dụng kháng sinh của bác sĩ trên lâm sàng, Hội đồng thuốc và điều trị giám sát việc kê đơn kháng sinh của các bác sĩ qua các cuộc họp bình bệnh án và kiểm thảo tử vong hàng tháng. Các bác sĩ luôn quan tâm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm soát nhiễm khuẩn. Thực tế tại các bệnh viện, tình hình công việc thay đổi theo từng năm với tính chất của dịch bệnh, do vậy các bệnh viện cần xây dựng phần mềm, tập huấn, phân tích đề kháng kháng sinh, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực hiện giải trình tự gene, tìm gene kháng thuốc kháng sinh với các chủng đa kháng, siêu kháng, tiến hành phân tích, báo cáo kết quả đề kháng kháng sinh, thực hiện tốt công tác giám sát và báo cáo các chủng đa kháng theo quy định của Bộ Y tế là hết sức cần thiết.
Hữu Cao