
Với mục đích khảo sát các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của các nhóm có hành vi nguy cơ cao, ThS. Trần Thị Kim Dung- Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa- đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trên các đối tượng nguy cơ cao tại Khánh Hòa”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2014 tại TP Nha Trang, thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh với hai mục tiêu (1) xác định tỷ lệ nhiễm HIV và chiều hướng nhiễm HIV ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại tỉnh Khánh Hòa từ năm 2012 đến 2014; (2) Mô tả các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục đồng giới và đo lường độ bao phủ các chương trình dự phòng, chăm sóc và điều trị.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là đủ 16 tuổi trở lên, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) có quan hệ tình dục qua đường hậu môn với nam giới khác trong vòng 12 tháng qua. Quy trình chọn mẫu trên nhóm MSM là họp nhóm đồng đẳng viên, cộng tác viên để thông báo kế hoạch điều tra lấy mẫu, đồng thời phân công công việc cho các cộng tác viên, đồng đẳng viên gặp trực tiếp đối tượng nghiên cứu gửi giấy mời các đối tượng đến tham gia điều tra theo lịch.

Địa điểm điều tra phỏng vấn tại TP Nha Trang là Trung tâm Tư vấn Đa dịch vụ Trạm Y tế phường Tân Lập; tại thị xã Ninh Hòa là Trạm Y tế phường Ninh Đa, Ninh Thủy và Ninh Phước; tại huyện Vạn Ninh là Trung tâm Tư vấn Đa dịch vụ tại Trung tâm Y tế Vạn Ninh, Trạm Y tế xã Vạn Bình và Trạm y tế xã Vạn Hưng.
Xét nghiệm phát hiện bệnh giang mai được Bệnh viện Da Liễu thực hiện; xét nghiệm HIV được Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thực hiện theo Thông tư 09/2012/TT-BYT ngày 24/5/2012 của Bộ Y tế. Cỡ mẫu nghiên cứu cho từng năm ở nhóm MSM là 150 người.
Giám sát viên tuyến tỉnh và huyện là các cán bộ có kinh nghiệm trong giám sát điều tra của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; Trung tâm Y tế các huyện. Điều tra viên là các cán bộ có kinh nghiệm, kỹ năng trong điều tra của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; Trung tâm Y tế TP Nha Trang. Xét nghiệm viên là các cán bộ có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác lấy máu, bảo quản, vận chuyển mẫu của Khoa xét nghiệm Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; phòng xét nghiệm HIV/AIDS của Trung tâm đã được phép khẳng định các trường hợp HIV dương tính.
Các chỉ số đã thu thập của nghiên cứu bao gồm tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm MSM, thông tin chung của đối tượng nghiên cứu và các chỉ số về hành vi của đối tượng nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi trung bình của nhóm MSM qua các năm từ 27-29 tuổi (27.2%, 29.1%, 28%); trên 80% đối tượng MSM còn độc thân và tăng dần qua các năm từ 2012-2014 là 80.7%, 84.7% và 88.6%. Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm MSM tăng dần qua các năm từ 2012-2014 là 1.3%, 2% và 2.7%; Có 19.3%, 10% và 16.7% MSM đã từng sử dụng thuốc lắc và ma túy tổng hợp qua các năm; tỷ lệ tiêm chích ma túy hai năm 2012 và 2013 đều 4.7%, riêng năm 2014 giảm còn 4% đối tượng đã từng tiêm chích ma túy. Tuổi trung bình lần đầu QHTD với bạn tình nam qua các năm là 23.1, 21.9 và 20.8. Số lần QHTD qua đường hậu môn với bạn tình nam trung bình trong tháng trước điều tra tăng dần qua các năm lần lượt là 2.9, 3.7 và 4.2 lần. Có 61.1%, 73.5% và 81.5% đối tượng MSM có sử dụng BCS cho lần QHTD gần đây nhất qua các năm; tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS cho tất cả các lần QHTD với bạn tình nam trong tháng qua lần lượt là 28.4%, 44.4% và 47.4%. Tỷ lệ có QHTD với bạn tình nam để nhận tiền (bán dâm) trong 12 tháng qua lần lượt qua các năm là 31%, 23.5% và 25.3%. Số lần bán dâm trung bình trong vòng 1 tháng qua là 0.8, 2.1 và 1.3 lần từ 2012 – 2014. Tỷ lệ dùng BCS trong lần bán dâm gần nhất là 74.4%, 75% và 68.4%; tần suất thường xuyên sử dụng BCS khi bán dâm trong 1 tháng là 58.8%, 68.8% và 57.9%. Tỷ lệ MSM biết nơi đến để tư vấn và xét nghiệm HIV tăng dần trong 3 năm nghiên cứu là 61%, 83.3% và 86%. Tỷ lệ MSM đã từng xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 12 tháng qua là 29%, 39.3% và 41.3% từ 2012-2014. Tỷ lệ MSM đã từng khám bệnh lây truyền qua đường tình dục trong vòng 3 tháng qua trong các năm từ 2012-2014 là 21%, 18.7% và 14.7%. Có 27.5%, 28.6% và 33.3% MSM được nhận bơm kiêm tiêm miễn phí trong vòng 6 tháng qua từ năm 2012-2014. Có 27%, 32% và 47.3% MSM được nhận BCS miễn phí trong vòng 6 tháng qua từ 2012-2014. Tỷ lệ MSM được tiếp cận các đồng đẳng viên trong 3 năm là 50.3%, 64% và 41.3%.
Nghiên cứu đã có những khuyến nghị tiếp tục triển khai chương trình can thiệm giảm tác hại, phát bơm kiêm tiêm, bao cao su cho nhóm MSM. Nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi đối với nhóm MSM, đặc biệt giúp các nhóm đối tượng này thực hiện tốt hành vi an toàn trong tiêm chích và an toàn trong QHTD. Tăng cường quảng bá dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện, chăm sóc điều trị ARV đến các nhóm đối tượng nguy cơ cao để khuyến khích người có nguy cơ thực hiện tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV nếu có kết quả dương tính chuyển gửi ngay đến các phòng khám ngoại trú để được chăm sóc điều trị.
Anh Huy