
Thai chậm phát triển trong tử cung là tình trạng thai nhi bị suy dinh dưỡng ngay từ khi còn nằm trong tử cung. Thai được coi là chậm phát triển trong tử cung khi ước lượng thai nằm dưới đường bách phân vị thứ 10 tương ứng với tuổi thai và theo chủng tộc.
Thiếu oxy não là nguyên nhân chính, chiếm 50-60% các nguyên nhân gây tử vong, ngạt và bệnh lý sơ sinh. Vì vậy theo dõi sát và đánh giá tình trạng đúng suy tuần hoàn thai có vai trò rất quan trọng quyết định phương pháp và thời điểm xử trí thích hợp với các thai nghén nguy cơ suy thai cao, đặc biệt trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung. Điều này rất có ý nghĩa với thầy thuốc, giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh, chu sinh, giảm biến chứng, di chứng thần kinh, vận động, chậm phát triển tâm thần của trẻ góp phần nâng cao chất lượng dân số và giúp giảm gánh nặng cho xã hội.
Siêu âm là phương pháp thăm dò không xâm lấn, được áp dụng rộng rãi trong sản phụ khoa, với nhiều ưu điểm vượt trội. Ngoài áp dụng để thăm dò hình thái học thai còn ứng dụng siêu âm doppler mạch máu như hệ động mạch, tĩnh mạch thai: động mạch rốn và động mạch não, tĩnh mạch rốn, Arantius. Dựa vào kết quả này thầy thuốc có thể biết tốc độ các dòng chảy các mạch máu, đo độ trở kháng các động mạch từ đó có thể biết thai nhi có suy thai hay không, có hiện tượng phân bố lại tuần hoàn thai trong trường hợp thai suy, từ đó có thể tiên lượng được thai nhi có khả năng thích nghi với tình trạng suy thai, thiếu oxy hay không và ngược lại.
Từ tháng 5/2011 đến tháng 01/2015, tác giả nghiên cứu Đào Thị Hoa cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Trường đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu “Giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung”.
Đây là nghiên cứu tiến cứu, theo tác giả nghiên cứu các bệnh nhân có đủ các tiêu chuẩn, được chẩn đoán là thai chậm phát triển trong tử cung với ước đoán trọng lượng thai nhi nằm dưới đường bách phân vị số 10 tương ứng theo tuổi thai đường bách phân vị trọng lượng thai nhi Việt Nam.
Sản phụ được siêu âm hình thái học thai, đo các chỉ số sinh học và phần phụ thai, đánh giá tình trạng ối, khẳng định là thai chậm phát triển trong tử cung; thăm dò doppler hệ động mạch như doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, động mạch tử cung, siêu âm doppler ống tĩnh mạch Arantius, kết quả được so sánh với giá trị sinh lý theo tuổi thai. Theo dõi nhịp tim thai bằng máy monitoring sản khoa, theo dõi đơn thuần (test không đả kích) theo phác đồ điều trị của Bệnh viện. Kết quả thăm dò doppler động mạch rốn bất thường khi chỉ số xung PI > 2SD theo đường bách phân vị tương ứng tuổi thai hoặc tốc độ dòng tâm trương (AEDV) bằng 0 hoặc đảo ngược (REDV). Ống tĩnh mạch Arantius bất thường khi sóng a bằng, hoặc nhỏ hơn 0 (a≤0), PI cao hơn giá trị trên đường bách phân vị số 95 theo tuổi thai dựa trên kết quả biểu đồ bách phân vị công bố của Hechet và cộng sự. Kết quả nghiên cứu ghi lại số liệu các thăm dò siêu âm doppler làm trong vòng 24h trước khi sinh. Trẻ sơ sinh sau khi đẻ được kẹp dây rốn trước khi khóc, lấy ngay máu động mạch rốn vào bơm tiêm 1 ml có tráng Heparin chống đông và gửi ngay khoa sơ sinh phân tích khí máu, đo Ph, BE, đánh giá thăng bằng kiềm toan. Chẩn đoán suy thai nặng khi Ph ≤ 7.15 hoặc BE <- 8mmol/l sau đó sơ sinh được cân và so cân nặng với đường bách phân vị theo tuổi thai.
Báo cáo nghiên cứu của tác giả Đào Thị Hoa cho thấy có 252 sản phụ đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Không có trường hợp nào có bất thường cấu trúc thai, không có bất thường nhiễm sắc thể thai. Tuổi thai chia theo nhóm: 57 trường hợp thai 28-32 tuần, 108 tuổi thai 33-36 tuần và 87 trường hợp tuổi thai ≥ 37 tuần. Có 241/252 bệnh nhân mổ lấy thai và 11 trường hợp đẻ thường, 11 bệnh nhân này là những trường hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. Các bệnh nhân mổ lấy thai đều được gây tê tủy sống nên kết quả ít bị ảnh hưởng bởi phương pháp giảm đau, gây mê. Tuổi trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu 29.2. Hầu hết các bệnh nhân đều nằm trong độ tuổi sinh đẻ, nhiều nhất tập trung ở nhóm 25 đến 34 tuổi (57%), bệnh nhân nhiều tuổi nhất là 45 và thấp nhất 19 tuổi.
Trong nhóm nghiên cứu có 3 trường hợp đẻ con lần 3 (1,2%). Có 138 bệnh nhân là con so (54,8%), 101 con rạ, như vậy thai chậm phát triển trong tử cung có thể gặp ở bất cứ lần sinh nào của sản phụ. Có 241 bệnh nhân mổ lấy thai và 11 trường hợp đẻ thường. 11 bệnh nhân này là những trường hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. 14 trường hợp sau đẻ có suy thai nặng pH ≤ 7,15 hoặc BE <-8mmol/l, chiếm tỷ lệ 5,8%.
Đối với kết quả thăm dò doppler động mạch rốn, BS Hoa báo cáo có 30/32 bất thường doppler động mạch rốn có suy thai thực sự (62,5%). Trong khi đó chỉ có 8/220 trường hợp doppler động mạch rốn bình thường có suy thai sau đẻ (chiếm 3,6%). Theo BS Hoa, bằng doppler động mạch rốn có thể tìm ra những trường hợp thai có nguy cơ cao để theo dõi sát và tiến hành các xét nghiệm khác để phát hiện dự phòng các biến chứng thai.
Kết quả thăm dò doppler ống tĩnh mạch Arantius có 22/33 thai chậm phát triển trong nhóm nghiên cứu có sóng a bất thường có diễn biến thai suy thực sự sau sinh hoặc thai lưu trong quá trình theo dõi. Như vậy sự xuất hiện của sóng a rất có giá trị báo trước tiên lượng thai xấu với giá trị chẩn đoán dương tính 69,7% và có ý nghĩa hơn khi chỉ có 6/291 trường hợp sóng a bình thường có suy thai sau sinh, với giá trị chẩn đoán âm tính 95,4%. Như vậy với những trường hợp thai nghén có nguy cơ cao suy tuần hoàn nếu sóng a của phổ doppler ống tĩnh mạch Arantius bình thường tại thời điểm thăm dò thì chúng ta có thể kết luận nguy cơ toan hóa máu của thai không cao.
Theo BS Hoa, thai chậm phát triển trong tử cung là bệnh lý hay gặp trên lâm sàng, một trong những nguyên nhân chính gây thai chết lưu và bệnh lý chu sinh. Nghiên cứu thấy mối liên quan chặt chẽ giữa bất thường doppler động mạch tử cung và bất thường doppler ống tĩnh mạch Arantius trên nhóm bệnh nhân có rối loạn suy giảm tuần hoàn tử cung thai này. Hầu hết các thai chậm phát triển đều có biến động tuần hoàn thai, bất thường doppler động mạch rốn xuất hiện trước bất thường doppler động mạch não và sau cùng là bất thường tĩnh mạch Arantius và gây ra mất thăng bằng kiềm toan máu thai nhi.
Kết luận cho nghiên cứu, tác giả Đào Thị Hoa cùng cộng sự đưa ra (1) bất thường phổ doppler ống tĩnh mạch Arantius rất có giá trị chẩn đoán suy thai; (2) thăm dò doppler động mạch rốn có giá trị chẩn đoán suy thai trên những thai chậm phát triển trong tử cung với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng 62,5%; 96,4%; 71,4%; 94,6%. (3) Thăm dò doppler ống tĩnh mạch nếu có bất thường sóng a thì rất có giá trị chẩn đoán thai suy với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính 69,7%; 95,4%; 69,7%; 95,4%. (4) Giá trị chẩn đoán suy thai tăng có ý nghĩa khi kết hợp cả hai phương pháp thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius nếu có bất thường cả trên doppler động mạch rốn và tĩnh mạch Arantius thì độ nhạy 75,0%; độ đặc hiệu 95,9%; giá trị chẩn đoán dương tính 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%./.
Lâm Quyên