
Theo tác giả M.Loeffler, tế bào gốc là những tế bào biệt hóa, có khả năng tăng sinh, có khả năng tự duy trì quần thể của mình; khả năng tạo ra một số các tế bào con cháu có chức năng, được biệt hóa; có khả năng tái tạo mô sau thương tổn. Những tế bào có đầy đủ các tính chất trên là những tế bào gốc thực sự (actual stem cells), còn những tế bào có những khả năng trong những điều kiện nhất định, được gọi là tế bào gốc tiềm năng (potential stem cells).
Tế bào gốc trưởng thành (adult stem cells) là các tế bào gốc được lấy từ tủy xương, máu cuống rốn, dây rốn và mô mỡ. Đây là nguồn tế bào gốc được sử dụng nhiều nhất, vì nguồn cung dồi dào và không bị cản trở về mặt đạo đức nghiên cứu và luật pháp.
Đặc điểm sinh học chung cho các tế bào gốc phôi, tế bào gốc bào thai, tế bào gốc trưởng thành, tế bào gốc từ nguồn phôi chuyển nhân có khả năng tự đổi mới, tiềm năng sự biệt hóa và tính mềm dẻo của tế bào gốc.
Ứng dụng tế bào gốc trưởng thành được sử dụng sớm nhất, phổ biến nhất và thành công nhất trong y học tái tạo và liệu pháp tế bào (cell therapy). Trong nhóm này lại được chia ra các nhóm sau đây:
Tế bào gốc tạo máu (hemapoietic stem cells) được lấy từ tủy xương, máu cuống rốn hoặc máu ngoại vi. Ứng dụng chủ yếu trong điều trị các bệnh máu ác tính hoặc di truyền như lơxêmi, myeloma, lymphoma, bệnh thalassemia, suy tủy, thiếu máu hình liềm, hội chứng Blackfan-Diamond…Ngoài ra còn sử dụng để điều trị bệnh máu thứ phát ở bệnh nhân ung thư phải dùng hóa trị hoặc xạ trị.
Các tế bào gốc tạo máu cũng có thể dùng để điều trị các khối u đặc như ung thư phổi, tuyến tiền liệt, buồng trứng, vú, đại tràng…cũng như một số bệnh tự miễn (đái tháo đường, luput ban đỏ, viêm khớp dạng thấp…)
Tế bào gốc trung mô (mesechymal stem cells): có thể lấy từ tủy xương, mô mỡ, da, dây rốn, nhau thai…Tế bào gốc trung mô có thể biệt hóa thành các dòng tế bào sinh xương (osteogenic), sụn (chondrogenic) và mỡ (adipogenic) thuộc trung mô. Ngoài ra còn có thể biệt hóa dòng tế bào ngoại mô như mô thần kinh hay nội mô (tế bào gan) [Patel & cộng sự, 2003; Zang & cộng sự, 2013]
Tế bào gốc biểu mô (epithelial stem cells): có thể phân lập từ da, vùng rìa giả mạc, niêm mạc miệng, màng dây rốn; thường được sử dụng trong điều trị các bệnh và thương tổn da (bỏng, sang chấn), trong thẩm mỹ da.
Tế bào gốc nội mạc, tế bào gốc thần kinh.
Theo GSTS Lê Nam Trà, Việt Nam đã có những ứng dụng tế bào gốc trong điều trị như xây dựng được quy trình nuôi tạo tấm biểu mô giác mạc từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc, sử dụng nền nuôi cấy là màng ối người, bước đầu ghép tự thân thành công cho 4 bệnh nhân bị bỏng giác mạc do tôi vôi, theo dõi sau 15 tháng thì 2/4 bệnh nhân đạt kết quả tốt, 2/4 mức trung bình.
Đã sử dụng ghép tế bào gốc tự thân để điều trị cho 2 bệnh nhân nam bị bệnh u tủy nhiều nơi (multiple myeloma) đã thất bại về hóa trị.
Đề tài ghép tế bào gốc từ tủy xương cho 6 bệnh nhân nam bị nhồi máu cơ tim cấp (từ 44-67 tuổi) đã mang lại kết quả khả quan, nhất là trong việc cải thiện chức năng thất trái.
Tại Hội nghị khoa học Tạo hình thẩm mỹ lần thứ 13 do Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa phối hợp tổ chức tại thành phố Nha Trang tháng 6/2016 vừa qua, Giáo sư John Flynn đến từ Australia báo cáo đề tài “Tế bào gốc trong điều trị thẩm mỹ” .
Giáo sư John Flynn cho rằng sử dụng tế bào gốc trưởng thành trong lĩnh vực thẩm mỹ có nguy cơ thấp, đây là phương pháp tự thân, dễ dàng lấy được từ mỡ, có thể mọc và phát triển, về số lượng cần khoảng 1 triệu tế bào gốc/kg, liều bình thường là 50-100 triệu tế bào gốc; tế bào gốc từ mỡ là nguồn tế bào gốc dồi dào nhất trong cơ thể; tế bào gốc từ mỡ này có thể biệt hóa thành tế bào sụn, sợi…tế bào gốc phân tách từ mỡ rất giống tế bào trung mô. Sử dụng tế bào gốc từ mỡ áp dụng cho điều trị khớp, liệu pháp tiêm tĩnh mạch, căng da mặt bằng tế bào gốc, cấy mỡ mặt, ngực, bàn tay…/.
Anh Huy