Viêm cột sống dính khớp (CSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính, chưa rõ nguyên nhân, hay gặp ở nam giới trẻ tuổi, gây tổn thương các khớp ở gốc chi và cột sống, bệnh nhân sẽ bị dính khớp, biến dạng và tàn phế. Theo thống kê của bệnh viện Bạch Mai, có khoảng 1,5 bệnh nhân mắc bệnh khớp/1000 người trên 16 tuổi mắc bệnh CSDK, nam giới chiếm 90-95%, tuổi dưới 30 chiếm 80%, 3-10% có tính chất gia đình.
Theo các chuyên gia cột sống, về cơ chế bệnh sinh thường liên quan đến một số yếu tố như do các tác nhân gây bệnh Yersinia, Klebsiela, do bệnh lậu, Samonella, Shigella. Những tác nhân này đóng vai trò kích thích ban đầu. Về cơ địa, bệnh nhân có yếu tố kháng nguyên HLA B27 như một vai trò receptor. Bản thân tác nhân gây bệnh có cấu trúc kháng nguyên gần giống với HLA B27. HLA B27 nằm cạnh một gen đáp ứng miễn dịch mà nó chỉ đóng vai trò đại diện, chính gen này đáp ứng với tác nhân gây bệnh và sinh ra bệnh viêm dính cột sống. Về các nguyên nhân khác là yếu tố chấn thương, điều kiện vệ sinh kém, nhiễm khuẩn…
Thường bệnh viêm CSDK có 80% trước tuổi 30. Có khoảng 70% bắt đầu từ từ, 30% bắt đầu đột ngột, 75% bắt đầu từ khớp háng, 25% bắt đầu từ cột sống. Dấu hiệu ban đầu, bệnh nhân đau vùng hông, đau kiểu đau thần kinh tọa, viêm gân Achille. Hay gặp bệnh nhân bắt đầu viêm các khớp cổ chân, khớp gối, háng và đau cột sống thắt lưng, các triệu chứng này kéo dài nhiều tháng, nhiều năm.
Ở giai đoạn toàn phát, bệnh nhân bị sưng, hạn chế vận động nhiều khớp, teo cơ, biến dạng nhanh. Viêm khớp thường có tính chất đối xứng, đau tăng về đêm. Đối với các khớp, khớp háng 90% thường bắt đầu một bên, sau đó hai bên; đối với khớp gối, 80% có tràn dịch khớp. Đối với cột sống thường xuất hiện triệu chứng muộn hơn các khớp ở chi; cột sống thắt lưng 100% đau liên tục, hạn chế vận động, teo cơ cạnh cột sống. Đối với cột sống lưng thường muộn hơn vùng thắt lưng, đau âm ỉ, hạn chế vận động, gù, cứng, teo cơ. Cột sống cổ có thể muộn hơn hoặc sớm hơn, biến dạng hạn chế vận động. Ở khớp vùng chậu, đây là dấu hiệu sớm, có đặc hiệu hình ảnh trên phim X-quang. Bệnh nhân đau vùng cùng chậu, lan xuống đùi, teo cơ mông, có nghiệm pháp giãn cánh chậu dương tính. Có khoảng 3% bệnh nhân có những triệu chứng sốt, gầy sút, viêm mống mắt. Có 5% bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền ở tim, hở van động mạch chủ. Các biểu hiện khác hiếm gặp là xơ teo da, xơ phổi, chèn ép rễ thần kinh tủy, thoát vị bẹn, rốn.
Các bác sĩ cho biết, xu hướng chung của bệnh là nặng dần, 50% tiến triển liên tục, 10% tiến triển nhanh dẫn đến dính khớp, biến dạng. Nếu không được điều trị sớm, điều trị đúng, bệnh nhân có nhiều tư thế xấu, tàn phế. Bệnh có thể gây biến chứng như suy hô hấp, tâm phế mạn, lao phổi, liệt.
Nếu bệnh nhân trẻ, viêm nhiều khớp ngoại vi, sốt, gầy sút là những yếu tố tiên lượng bệnh nặng. Đối với bệnh nhân mắc bệnh viêm CSDK sau 30 tuổi, thể cột sống có tiên lượng tốt hơn. Xét nghiệm yếu tố HLA-B27, viêm CSDK có tỷ lệ 75-95% (+), người bình thường xét nghiệm này dương tính vào khoảng 4%.
Trên phim X-quang dấu hiệu sớm là viêm khớp cùng chậu hai bên giai đoạn 3 và 4; ở giai đoạn muộn khớp háng hẹp khe khớp, diện khớp mờ, khuyết xương, dính. X-quang cột sống có cầu xương (thân cây tre), dải xơ (đường ray).
Bệnh được chẩn đoán dựa vào tiêu chuẩn X-quang và có ít nhất một yếu tố thuộc tiêu chuẩn lâm sàng. Ở Việt Nam, theo các bác sĩ, chẩn đoán dựa vào các yếu tố: nam giới, trẻ tuổi, đau và hạn chế vận động hai khớp háng, tốc độ lắng máu cao, X-quang viêm khớp cùng chậu hai bên giai đoạn 2 trở lên.
Bệnh được chẩn đoán phân biệt với lao khớp háng; chảy máu trong khớp; gút…Viêm cột sống do lao, tụ cầu, di chứng chấn thương, hội chứng Reiter, viêm khớp vảy nến. Về điều trị, theo khuyến cáo, nguyên tắc là giáo dục bệnh nhân tuân thủ điều trị, luyện tập thường xuyên kết hợp vật lý trị liệu. Điều trị thuốc chống viêm không steroid, giảm đau, giãn cơ vân. Ở bệnh nhân thể nặng, kháng lại thuốc chống viêm, chỉ định điều trị sinh học thuốc kháng TNF alpha. Đối với thể ngoại biên phối hợp thêm sunfasalazin, điều trị glucocorticoid tại chỗ. Giai đoạn bệnh có viêm dính khớp háng, gù vẹo cột sống quá mức ảnh hưởng chức năng vận động bệnh nhân có thể được mổ thay khớp háng, chỉnh sửa cột sống.
Người điều dưỡng cần giáo dục cho người bệnh, gia đình người bệnh biết về nguyên nhân, các tổn thương và tiến triển của bệnh để có thái độ điều trị và chăm sóc chu đáo. Người bệnh cần biết cách tập luyện đặc biệt là trong giai đoạn cấp. Người bệnh cần biết các tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra. Trong quá trình điều trị, đánh giá các khớp có thuyên giảm sưng, đau, mức độ hạn chế vận động của người bệnh; đánh giá khả năng điều trị của người bệnh; đánh giá những vấn đề sai sót để có giải pháp bổ sung kế hoạch điều trị, chăm sóc phù hợp hơn./.
Hoa Đăng