Ở Mỹ, đột quỵ là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở người trưởng thành.
Đột quỵ não có hai thể lâm sàng chính: đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính đặc trưng bởi sự mất lưu thông máu đột ngột đến một khu vực của não do tắc nghẽn mạch bởi huyết khối hoặc cục tắc ở động mạch não dẫn đến mất chức năng thần kinh tương ứng.
Đột quỵ thiếu máu não hay còn gọi là nhồi máu não, thể này phổ biến hơn, nguyên nhân do nứt vỡ các động mạch trong não.
Thể lâm sàng thứ hai là đột quỵ xuất huyết não, chảy máu trực tiếp vào nhu mô não. Cơ chế thường là rò rỉ từ các động mạch nội sọ nhỏ, bị tổn thương do tăng huyết áp mãn tính. Thống kê có 8-18% đột quỵ là đột quỵ xuất huyết não, tuy nhiên tỷ lệ tử vong cao hơn thể đột quỵ thiếu máu não. Bệnh nhân bị chảy máu nội sọ thường có dấu hiệu đau đầu, rối loạn tâm thần, co giật, buồn nôn và nôn và/hoặc tăng huyết áp rõ rệt.
Theo các chuyên gia tim mạch, đối với nhồi máu não có 3 thể chính: nhồi máu não động mạch lớn, nhồi máu não động mạch nhỏ hoặc nhồi máu ổ khuyết và nhồi máu não do cục tắc di chuyển từ tim. Nhồi máu não động mạch lớn thường liên quan đến huyết khối hình thành trên thành động mạch bị xơ vữa, thường là động mạch cảnh, động mạch sống nền và động mạch não. Có những trường hợp do huyết khối hoặc cục tắc từ tim và đây là nguyên nhân phổ biến tái phát nhồi máu não.
Não là cơ quan có hoạt động chuyển hóa cao nhất trong cơ thể. Mặc dù não chỉ chiếm 2% khối lượng của cơ thể nhưng não cần 15-20% tổng cung lượng tim lúc nghỉ để cung cấp glucose và oxy cần cho quá trình trao đổi chất.
Nhồi máu não cấp tính hay do huyết khối hoặc cục tắc làm thiếu máu cục bộ, đẫn đến thiếu oxy, giảm ATP tế bào, gây chênh lệch nồng độ Ion qua màng tế bào gây phù tế bào não. Các vùng có lưu lượng máu não dưới 10ml/100g mô/phút được gọi là vùng lõi hay trung tâm ổ nhồi máu, ở vùng này tế bào não sẽ hoại tử sau vài phút nhồi máu não. Khu vực ngoại biên có lưu lượng máu <25ml/100g mô/phút thì tế bào não có thể tồn tại vài giờ vì còn được tưới máu.
Thiếu máu cục bộ trực tiếp phá hủy hàng rào máu não thường xảy ra trong 4-6 giờ sau đột quỵ, gây phù mạch, phù não, sau 3-5 ngày sẽ rất nặng và kéo dài nhiều tuần nếu nước và protein được tái hấp thu.
Trong vòng vài giờ đến vài ngày, vòng ngoại vi ổ nhồi máu dần bị thu hẹp, trung tâm ổ nhồi máu lan rộng, vùng mô hoại tử này dần mất đi, thay thế bằng các nang nước trong não.
Theo các chuyên gia có những yếu tố nguy cơ là tuổi, chủng tộc, giới tính, gia đình có người bị đột quỵ hoặc các cơn thiếu máu não thoáng qua.
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được là tăng huyết áp (quan trọng nhất), đái tháo đường, bệnh tim, rối loạn lipit máu, thiếu máu não thoáng qua (TIAs), hẹp động mạch cảnh, uống rượu quá mức, hút thuốc lá, sử dụng ma túy, ít hoạt động thể lực, béo phì, dùng hormone sau mãn kinh, bệnh hồng cầu hình liềm.
Các dấu hiệu của nhồi máu não thường xuất hiện đột ngột như liệt nửa người hoặc liệt một phần cơ thể; mất hoặc giảm cảm giác một bên cơ thể; mất thị lực một hoặc hai mắt; mất hoặc giảm thị trường; nhìn đôi (song thị); giảm hoặc không vận động được khớp xương; liệt mặt; thất điều; chóng mặt; thất ngôn; rối loạn ý thức đột ngột.
Cán bộ y tế cần xác định thời điểm cuối cùng bệnh nhân còn bình thường để xem xét chỉ định điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch. Có nhiều khi đến cơ sở y tế chậm vì đột quỵ trong khi ngủ, không phát hiện ra; đột quỵ nhưng bệnh nhân không thể gọi sự giúp đỡ; người chăm sóc, người thân không nhận biết được dấu hiệu đột quỵ.
Khi phát hiện bệnh nhân đột quỵ, cấp cứu 115 nhanh chóng vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện được trang bị máy chụp CT sọ não và có khả năng điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết để đem lại cơ hội tốt nhất cho bệnh nhân. Đột quỵ là tình trạng cấp cứu ưu tiên, đòi hỏi nhân viên y tế phản ứng nhanh chóng.
Mục tiêu trung tâm điều trị là bảo tồn nhu mô não ở vùng giảm tưới máu nhưng bị hoại tử; khôi phục lưu lượng máu đến, tối ưu hóa tuần hoàn bàng hệ khu vực bị tổn thương. Sử dụng chất kích hoạt plasminogen mô đường tĩnh mạch (rt-PA) và các phương pháp tiếp cận trong động mạch giúp tái thông mạch máu để cứu sống tế bào.
Năm 2013, Hội đột quỵ Mỹ (ASA) đưa ra thuật ngữ FAST mô tả dấu hiệu cảnh báo đột quỵ cho người dân: F(Face): mặt bị liệt (méo, lệch); A(arm): tay cử động khó khăn (yếu tay); S(speech): nói khó; T(time). Khi có 3 dấu hiệu trên, thời gian quý hơn vàng, cần gọi ngay cấp cứu.
Dự phòng tiên phát đối với người chưa bị đột quỵ gồm sử dụng kháng kết tập tiểu cầu, điều trị rối loạn lipit máu bằng statin, cai thuốc lá, tập thể dục.
Dự phòng thứ phát ở bệnh nhân bị đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua nên kiểm tra bệnh đái tháo đường, béo phì và hội chứng ngưng thở khi ngủ. Đối với những bệnh nhân không rõ nguyên nhân cần theo dõi có bị cơn rung nhĩ. Điều trị kháng tiểu cầu aspirin và clopidogrel an toàn giúp giảm tái phát đột quỵ và các biến cố mạch máu khác./.
Tường Huân