Việc dự phòng bệnh tim mạch cho mỗi cá nhân cần được điều chỉnh theo mức nguy cơ tim mạch của cá nhân đó, nguy cơ tim mạch càng cao thì biện pháp phòng ngừa càng phải mạnh.
Để thực hiện được hướng dẫn dự phòng bệnh tim mạch phải có phân tầng nguy cơ tim mạch. Cụ thể, ước tính nguy cơ theo hệ thống SCORE, một người nữ giới có mức cholesterol 7mmol/L có thể có mức nguy cơ thấp hơn 10 lần so với một người nam giới có mức cholesterol là 5mmol/L nhưng có kèm hút thuốc lá và tăng huyết áp.
Ví dụ, nữ 60 tuổi, cholesterol 7mmol/L, huyết áp tâm thu 120mmHg, không hút thuốc lá có nguy cơ tim mạch 10 năm tới là 2%. Nếu cũng như vậy nhưng huyết áp tâm thu 140mmHg, nguy cơ tim mạch tăng lên là 5%. Nam 60 tuổi, cholesterol 6mmol/L, huyết áp tâm thu 160mmHg, không hút thuốc lá sẽ có nguy cơ tim mạch 10 năm tới là 9%; nếu cũng là nam 60 tuổi, có hút thuốc lá, huyết áp tâm thu 180mmHg, cholesterol 5mmol/L, nguy cơ tim mạch 10 năm tới sẽ là 21%.
Trong dự phòng bệnh tim mạch, giảm được nguy cơ tuyệt đối ở những người có nguy cơ ban đầu ở mức cao là rất quan trọng. Dù được điều trị, nhưng những người có nguy cơ ban đầu càng cao thì nguy cơ tồn dư cũng càng cao lên. Vì vậy phải can thiệp từ sớm hơn nữa, ngay khi còn trẻ để giảm tối đa nguy cơ cho mỗi người. Có một khó khăn đó là giữa yếu tố nguy cơ và bệnh có mối tương quan liên tục, ở đó không có một ngưỡng chính xác. Việc phân tầng nguy cơ là một bước quan trọng, cung cấp thông tin tài liệu cùng người bệnh để có quyết định điều trị và can thiệp.
Có một thực tế, có những trường hợp tử vong trong cộng đồng xảy ra ở người có mức nguy cơ thấp hơn so với nhóm mắc nguy cơ cao. Điều này được các chuyên gia tim mạch giải thích do trong cộng đồng nhóm người có nguy cơ thấp chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm có nguy cơ cao. Do vậy, bên cạnh việc can thiệp cho nhóm nguy cơ cao phải bổ sung mạnh mẽ chiến lược ở cấp độ cộng đồng để thúc đẩy thực hiện lối sống lành mạnh, giảm được những yếu tố nguy cơ cho mỗi cá nhân, cả cộng đồng.
Hiện Hội Tim mạch Châu Âu sử dụng hệ thống SCORE để ước tính nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch gây tử vong trong 10 năm tới (gọi tắt là nguy cơ tim mạch 10 năm).
Theo khuyến cáo, cần đánh giá nguy cơ tim mạch tổng thể một cách có hệ thống ở những người có nguy cơ tim mạch như tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch sớm, tăng lipit máu gia đình, có các yếu tố nguy cơ tim mạch chính như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc tăng lipit máu hoặc có các bệnh đồng mắc làm tăng nguy cơ tim mạch. Đánh giá nguy cơ tim mạch tổng thể, cần xem xét ở nam giới trên 40 tuổi, nữ giới trên 50 tuổi hoặc sau mãn kinh. Đối với những cá thể có nguy cơ cao hoặc rất cao không cần dùng thang điểm SCORE mà tiến hành can thiệp ngay các yếu tố nguy cơ. Những người nguy cơ rất cao là có bất kỳ biểu hiện bệnh tim mạch rõ, trên lâm sàng hoặc trên chẩn đoán hình ảnh; đái tháo đường kèm theo tổn thương cơ quan đích; suy thận nặng; có chỉ số nguy cơ 10 năm ≥10%.
Người có nguy cơ vừa là có chỉ số nguy cơ 10 năm từ 1 đến dưới 5%; tăng huyết áp độ 2, có nhiều người tuổi trung niên thuộc nhóm này. Người có nguy cơ thấp là những người có chỉ số nguy cơ 10 năm theo SCORE <1%.
Để tính nguy cơ tim mạch theo hệ thống SCORE, ta sử dụng công cụ biểu đồ hoặc sử dụng phần mềm ứng dụng có tên là sức khỏe tim mạch Việt Nam được Bộ Y tế xây dựng năm 2019. Qua tính toán, có thể thấy một người nam 40 tuổi, có những nguy cơ kèm theo hút thuốc lá, số đo huyết áp… sẽ bằng với một người nam 60 tuổi mà không có hút thuốc lá, cholesterol máu 4mmol/L, huyết áp 120mmHg, như vậy tuổi nguy cơ tim mạch ở người nam 40 tuổi này sẽ là 60 tuổi. Tuổi nguy cơ tim mạch được khuyến cáo để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dự phòng các yếu tố nguy cơ đặc biệt là người trẻ tuổi.
Các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ định đánh giá nguy cơ tim mạch là điểm vôi hóa động mạch vành; phát hiện mảng xơ vữa động mạch cảnh; chỉ số cổ chân-cổ tay (ABI) phát hiện bệnh xơ vữa động mạch chi dưới; nếu BMI <0,9 là dự báo bệnh động mạch chi dưới./.
Anh Huy