
Các phác đồ kích thích trứng trong thụ tinh ống nghiệm (TTON) thường cho các kết quả rất khác nhau về số lượng cũng như chất lượng noãn thu được.
Việc đánh giá chất lượng noãn dựa trên các đặc điểm hình thái bên ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiên lượng làm tổ và thụ thai của phôi về sau. Chất lượng noãn có thể được đánh giá thông qua các đặc điểm bên ngoài tế bào chất (hình thái của thể cực thứ nhất, kích thước và độ mịn của khoang quanh noãn, hình dạng và kích thước của màng zona pellucida) và các đặc điểm bên trong tế bào chất (độ mịn của bào tương, sự xuất hiện của thể vùi, không bào, mạng lưới nội chất trơn (smoth endoplasmic reticulum –SER).
Vào năm 2011, các nhà khoa học thuộc Hiệp hội chuyên ngành Aipha (Hiệp hội Sinh sản và Phôi học người) đã đồng thuận không sử dụng các noãn bị SER trong TTON do làm tăng nguy cơ bất thường trong các chu kỳ điều trị TTTON (Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special Interest Group of Embryology 2011). Đồng thuận không sử dụng noãn bị SER được đưa ra do dựa trên một số báo cáo cho thấy xuất hiện hội chứng Beckwith – Wiedemann (Otsuki et al.,2004), thoát vị cơ hoành (Ebner et al.2008), đa dị tật (Akarsu et al.2009) sau khi chuyển các phôi có nguồn gốc từ các noãn bị SER. Tuy nhiên, vào năm 2013, tác giả Mateizel và cộng sự lại báo cáo cho thấy các phôi có nguồn gốc từ noãn bị SER hoàn toàn phát triển bình thường và cho ra các em bé khỏe mạnh mà không có một dị tật nghiêm trọng nào được ghi nhận (Mateizel et al. 2013).
Một nghiên cứu tổng quan năm 2014 của tác giả Shaw-Jackson và cộng sự cho thấy có 183 bé được sinh ra từ các bệnh nhân có noãn bị SER với 171 bé khỏe mạnh và chỉ có 16 trường hợp có biến chứng thai kỳ (Shaw-Jackson et al.2014). Do đó, việc sử dụng hay không các noãn bị SER vẫn còn nhiều tranh cải.
Từ tháng 8/2013 đến tháng 8/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Hữu Dung cùng cộng sự tại Bệnh viện đa khoa Vạn Hạnh thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đề tài nghiên cứu “Có nên hay không nên sử dụng các noãn bị SER để ICSI và chuyển phôi”
Theo báo cáo của nhóm tác giả nghiên cứu, có tổng cộng 1055 ca ICSI trong khoản thời gian này với 112 ca có noãn bị SER. Các noãn nếu bị SER sẽ được quan sát thấy dưới kính hiển bị đảo ngược ở độ phóng đại 20X khi tiến hành ICSI
Với mục tiêu làm rõ tính an toàn của các noãn bị SER, nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá các yếu tố về labo (số noãn SER trưởng thành, tỉ lệ thụ tinh, khả năng tạo phôi, số phôi tốt) và các yếu tố lâm sàng (tỉ lệ thai lâm sàng, tỉ lệ làm tổ, tỉ lệ trẻ sinh sống và tỉ lệ dị tật ở các bé sinh ra từ phôi có nguồn gốc noãn bị SER) ở các ca có noãn bị SER và so sánh các ca này với các ca không bị SER trong cùng thời gian, cũng như là so sánh kết quả phôi trong nội bộ các ca bị SER giữa noãn bị SER (SER+MII) và noãn không bị SER (SER-MII).
Kết quả nghiên cứu theo báo cáo cho thấy có tổng cộng 112 ca có noãn bị SER (SER+) và 943 ca có noãn không bị SER (SER âm tính). Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm xác định xem liệu các noãn SER+MII có thụ tinh bình thường không cũng như là các phôi có nguồn gốc từ noãn bị SER có phát triển bình thường và cho ra các em bé khỏe mạnh không. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2nhóm SER+ và SER- về các yếu tố phôi và lâm sàng, cũng như các em bé sinh ra từ các phôi SER+ đều hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh khi so sánh với các ca không bị SER.
Qua phân tích, nhiều nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của bất thường SER là do việc kích thích buồng trứng chưa đủ, do nồng độ estradiol huyết thanh cao vào ngày rụng trứng chưa đủ, hay nồng độ AMH và estradiol cao cũng như do liều lượng hormone cao dùng trong kích thích buồng trứng và thời gian kéo dài của một chu kỳ điều trị (Ebner et al.2008; Qtsuki et al.2004). Sự xuất hiện của SER không liên quan đến tuổi của bệnh nhân, số lượng trứng chọc hút được, độ dày của nội mạc tử cung hay lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng (Otsuki et al.2004). Cơ chế hình thành SER đến nay vẫn chưa rõ nhưng sự xuất hiện của SER làm tăng dự trữ canxi nội bào của noãn và do đó ảnh hưởng đến nồng độ canxi nội bào được giải phóng trong quá trình thụ tinh làm cản trở sự hình thành tiền nhân, đồng thời tác động tiêu cực lên sự phát triển và làm tổ của phôi (Ebner et al.2008; Otsuki et al.2004). SER chỉ biến mất ở thời điểm 16-18h sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương noãn.
Để có phân tích rõ phôi phát triển từ các noãn SER +MII, tác giả nghiên cứu chia các phôi chuyển thành 3 nhóm: (1) chỉ chuyển phôi từ SER-MII (n=20); (2) chỉ chuyển phôi từ SER+MII (n=4); (3) chuyển phôi từ cả SER+MII và SER-MII (n=30). Có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về số phôi chuyển trung bình ở nhóm (p=0,004), tuy nhiên tỷ lệ thai lâm sàng, tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ trẻ sinh sống lại không có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm này. Ngoài ra , tuần thai và cân nặng trung bình ở các bé sinh ra từ noãn SER+MII cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các noãn SER+MII cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các noãn SER-MII ở 3 nhóm và giữa các ca SER+ và SER-.
Nhóm nghiên cứu đã có kết luận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các yếu tố phôi và lâm sàng giữa các ca SER+ và SER-, cũng như giữa các noãn SER+MII và SER-MII trong cùng các ca SER+. Các noãn SER+MII hoàn toàn có thể ICSI và chuyển phôi vì không cho thấy các bất thường về sản khoa theo nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu cho rằng do số liệu nghiên cứu còn ít nên cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu khác với cỡ mẫu lớn hơn để có thể có một kết luận chính xác hơn. Ngoài ra, các em bé sinh ra từ các phôi có nguồn gốc từ noãn SER+MII vẫn cần được theo dõi lâu dài nhằm xác định sớm các bất thường phát sinh về sau nếu có.
Trần Hưng