Tháng 11/2020, Bộ Y tế đã tổ chức tập huấn bồi dưỡng về công tác bảo vệ bí mật nhà nước cho các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên tại TP Nha Trang.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020; luật quy định về bí mật nhà nước, hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định căn cứ vào quy định của Luật, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Lộ bí mật nhà nước là trường hợp người không có trách nhiệm biết được bí mật nhà nước. Việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước bảo đảm đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Bí mật nhà nước được bảo vệ theo thời hạn quy định của Luật, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật.
Các hành vi bị nghiêm cấm là làm lộ, chiếm đoạt, mua, bán bí mật nhà nước, làm sai lệch, hư hỏng, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; thu thập, trao đổi, cung cấp, chuyển giao, sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao nhận, thu hồi, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trái pháp luật; lợi dụng, lạm dụng việc bảo vệ bí mật nhà nước, sử dụng bí mật nhà nước để thực hiện, che giấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân; mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ trái pháp luật; soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính đã kết nối hoặc đang kết nối mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông; chuyển mục đích sử dụng máy tính, thiết bị khác đã dùng để soạn thảo, lưu giữ, trao đổi bí mật nhà nước khi chưa loại bỏ bí mật nhà nước; sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức khi chưa được người có thảm quyền cho phép; đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, mạng máy tính và mạng viễn thông.
Phạm vi bí mật nhà nước là giới hạn thông tin quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, an ninh quốc phòng, lập hiến, lập pháp, tư pháp, đối ngoại, kinh tế, tài nguyên môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa - thể thao, thông tin và truyền thông, y tế - dân số, lao động và xã hội, tổ chức cán bộ, thanh tra, kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, kiểm toán nhà nước.
Đối với danh mục bí mật nhà nước về y tế, dân số bao gồm thông tin bảo vệ sức khỏe lãnh đạo cấp cao của Đảng, nhà nước; chủng, giống vi sinh vật mới phát hiện liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người; mẫu vật, nguồn gen, vùng nuôi trồng dược liệu quý hiếm; quy trình sản xuất dược liệu; thuốc sinh học quý hiếm; thông tin, tài liệu, số liệu điều tra về dân số.
Đối với công tác thanh tra, kiểm tra, danh mục bí mật nhà nước là chiến lược, kế hoạch, đề án về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.
Các bí mật nhà nước được phân thành 3 độ mật là tuyệt mật, tối mật và mật. Thông tin y tế, dân số nói trên thuộc nhóm bí mật nhà nước độ mật.
Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước là khoản thời gian được tính từ ngày xác định độ mật của bí mật nhà nước đến hết thời hạn sau đây: 30 năm đối với bí mật nhà nước độ tuyệt mật; 20 năm đối với bí mật nhà nước độ tối mật; 10 năm đối với bí mật nhà nước độ mật. Có thể thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước ngắn hơn quy định phụ thuộc xác định cụ thể tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi xác định độ mật.
Giải mật là xóa bỏ độ mật của bí mật nhà nước. Bí mật nhà nước được giải mật toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp: hết thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước; đáp ứng yêu cầu thực tiễn bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập, hợp tác quốc tế, không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước phải ban hành nội quy bảo vệ bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy định của pháp luật và quy chế, nội quy về bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý; chỉ đạo xử lý và kịp thời thông báo với cơ quan có thẩm quyền khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý. Tổ chức thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi người được phân công quản lý bí mật nhà nước thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu, từ trần hoặc vì lý do khác mà không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước.
Ngày 28/2/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/2020/NĐ-CP quy định ch tiết một số điều của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước , nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020./.
Hữu Lai