Theo các bác sĩ chuyên khoa tim mạch, phình mạch máu não là tình trạng phồng lên của mạch máu não từ một điểm yếu của lớp nội mạc của thành mạch máu. Khi thành mạch máu phồng lên, nó có thể mỏng đi hoặc là vỡ ra đột ngột, điều này làm bệnh nhân hôn mê, đột quỵ hoặc có thể tử vong.
Một số dấu hiệu hay gặp của bệnh phình mạch máu não là đột ngột đau đầu dữ dội, người bệnh cảm thấy buồn nôn, nôn; huyết áp tăng, cổ bị cứng, mờ mắt; một phần cơ thể bị tê và yếu; bệnh nhân có thể mất ý thức, không tỉnh táo; nhạy cảm với ánh sáng, co giật, sụp mí.
Bs Huỳnh Văn Thưởng - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa cho biết, đặt stent chuyển dòng sẽ làm đầy cổ túi phình, hạn chế dòng chảy của máu vào túi phình, giảm tối đa nguy cơ vỡ túi phình, cứu sống người bệnh. Ở Việt Nam, đặt stent điều trị phình mạch não bắt đầu áp dụng từ những năm 2012-2013. Có những trường hợp điều trị thành công với tỷ lệ 90% cho các túi phình động mạch não khổng lồ. Túi phình khổng lồ động mạch não là chỗ giãn lớn mạch máu não do thành mạch yếu hơn bình thường, có thể do thoái hóa thành mạch ở người già hoặc bệnh lý gây yếu thành mạch ở người trẻ tuổi. Túi phình khổng lồ động mạch não có nguy cơ tai biến xuất huyết não, nhồi máu não về sau rất cao. Khoảng 70% túi phình khổng lồ động mạch não sẽ nặng hơn sau 5 năm và nguy cơ tử vong lên đến 70-90%.
Các bác sĩ khuyến cáo, nếu người bệnh có đau đầu dữ dội, đột ngột hoặc đau đầu kéo dài; đáp ứng kém với điều trị nội khoa; bệnh nhân tê yếu nửa người, nhìn đôi, méo miệng, mờ mắt đột ngột, rối loạn tri giác lơ mơ, hôn mê thì người bệnh nên đến bệnh viện ngay lập tức để điều trị sớm.
Các bác sĩ cho biết, sau khi bệnh nhân được đặt stent đổi hướng dòng chảy - một khung kim loại có mắt lưới đủ dày được sử dụng để lót mặt trong mạch máu, giảm tốc độ dòng máu đi vào túi phình dẫn tới hình thành huyết khối gây tắc túi phình một cách tự nhiên. Túi phình không bị tắc ngang tại thời điểm sau khi bác sĩ thực hiện can thiệp mà chỉ giúp giảm được nguy cơ vỡ túi phình. Sau vài tháng đến 1 năm tùy theo vị trí kích thước, huyết khối sẽ hình thành và gây tắc túi phình một cách tự nhiên, người bệnh sẽ được điều trị thuốc chống ngưng tập tiểu cầu trước khi thực hiện đặt stent 5 ngày. Có những trường hợp bác sĩ không thể đặt stent cho người bệnh như tình trạng lâm sàng người bệnh không cho phép; giải phẩu mạch máu có túi phình quá uốn khúc, quanh co không thể tiếp cận được ống thông vào trong túi phình được. Hoặc những bệnh nhân bị rối loạn đông máu hoặc phản ứng với heparin, bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, phản ứng với thuốc cản quang, người bệnh bị suy chức năng thận không cho phép dùng thuốc cản quang.
Đặt stent là phương pháp chỉ thực hiện tại các bệnh viện có trung tâm chuyên khoa, người thực hiện phải có độ chính xác rất cao trong quá trình can thiệp trên bệnh nhân. Đặt stent lệch một vài milimét, đặt không đúng vị trí hoặc bị trôi stent ngay trước, trong và sau can thiệp sẽ là thất bại của ca can thiệp, ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh.
Nếu sau can thiệp bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, huyết động ổn định, bệnh nhân được xuất viện ngày hôm sau. Trường hợp túi phình vỡ hay tắc mạch, bệnh nhân cần được điều trị tích cực và tập phục hồi chức năng.
Theo Bs Huỳnh Văn Thưởng - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, túi phình mạch máu não là bệnh lý mạch máu đặc biệt nằm trong não. Cái túi phình nhỏ khi chưa vỡ hầu như không có biểu hiện triệu chứng nào.
Bệnh túi phình mạch máu não trông giống như một quả mọng treo trên thân cây. Thành động mạch chỗ túi phình bị mỏng, chứa đầy máu và có nguy cơ vỡ, gây xuất huyết nội sọ bất cứ lúc nào. Thông thường túi phình mạch máu não vỡ ở vị trí động mạch não giữa hoặc màng não. Động mạch não bị vỡ là một tình huống khẩn cấp dẫn đến đột quỵ, tổn thương não; nếu không điều trị ngay lập tức có thể bị tử vong. Tuy nhiên theo các chuyên gia tim mạch, không phải tất cả mạch phình sẽ vỡ.
Khi túi phình chưa vỡ, nếu túi phình nhỏ có thể người bệnh không biểu hiện triệu chứng gì. Ở trường hợp túi phình chưa vỡ lớn có thể đè ép vào các mô não và dây thần kinh gây các triệu chứng đau ở trên và phía sau mắt, giãn đồng tử, thay đổi thị lực hoặc nhìn đôi; người bệnh có thể tê, yếu hoặc liệt một bên mắt, sụp mí.
Đối với trường hợp túi phình “rò rỉ” một lượng máu nhỏ, triệu chứng người bệnh có thể đột ngột đau đầu dữ dội. Nếu túi phình mạch máu não vỡ sẽ gây triệu chứng đột ngột đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn; cổ cứng, nhìn mờ hoặc nhìn đôi, nhạy cảm với ánh sáng, co giật, sụp mí, mất ý thức, lẫn lộn.
Theo Bs Huỳnh Văn Thưởng, để chẩn đoán được bệnh túi phình mạch máu não, có thể chụp CT, chụp CT mạch máu, chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) hoặc chụp mạch máu não.
Chụp CT scan giúp xác định nơi chuyển máu trong não. Chup cắt lớp vi tính mạch máu (CTA Scan) là phương pháp chính xác để đánh giá mạch máu, xét nghiệm này kết hợp chụp CT Scan, kỹ thuật tiêm chất tương phản vào máu để tạo ra hình ảnh của các mạch máu.
Chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) sử dụng từ trường và năng lượng sóng vô tuyến để cung cấp hình ảnh các mạch máu bên trong cơ thể cùng với tiêm chất cản từ để làm cho các mạch máu hiện lên rõ ràng hơn.
Kỹ thuật chụp mạch não, ống thông được đưa vào qua mạch máu ở bẹn hoặc cánh tay và di chuyển lên vào trong não. Sau đó, bác sĩ sẽ tiêm chất cản quang vào các động mạch não, từ đó sẽ nhìn thấy rõ trên phim X-quang mọi vấn đề trong các động mạch, bao gồm cả túi phình. Đây là thủ thuật xâm lấn, có rủi ro so với những xét nghiệm trên, nhưng chụp mạch não là phương pháp tốt nhất để xác định vị trí các phình mạch có kích thước nhỏ hơn 5mm./.
Thanh Tùng