Theo các chuyên gia tim mạch, bệnh nhân đái tháo đường tăng nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch lên trung bình 2 lần. Điều trị đạt được các mục tiêu được khuyến cáo cho huyết áp, lipit máu, glucose máu và HbA1C là rất quan trọng trong phòng ngừa các biến chứng tim mạch qua đó giúp giảm được tỷ lệ tử vong người đái tháo đường.
Có nhiều nghiên cứu cho kết quả nguy cơ rất cao đối với bệnh nhân đái tháo đường trẻ tuổi (dưới 40 tuổi). Ở những bệnh nhân đái tháo đường, ngoài kiểm soát đường huyết, việc dự phòng các biến chứng tim mạch cũng tương tự với người không mắc đái tháo đường. Việc đạt được mục tiêu về huyết áp, LDL-C và cholesterol toàn phần là đặc biệt quan trọng.
Hầu hết bệnh nhân đái tháo đường có thể trạng béo, do vậy kiểm soát cân nặng ở mức phù hợp là rất quan trọng. Chế độ ăn uống cần ưu tiên trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và nguồn protein ít chất béo; hạn chế muối, chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa và rượu. Cũng cần kiểm soát lượng carbonhydrat và chất xơ ăn vào.
Kết hợp tập luyện thể lực (aerobic), tập thể lực loại tĩnh (như yoga) cho thấy hiệu quả trong phòng ngừa tiến triển đái tháo đường và điều chỉnh glucose máu. Cần ngừng hút thuốc lá vì hút thuốc làm tăng nguy cơ đái tháo đường, bệnh tim mạch, tử vong sớm.
Thay đổi lối sống giúp phòng ngừa tiến triển đái tháo đường ở những người có nguy cơ cao và giảm nguy cơ biến chứng bệnh lý mạch máu lớn và vi mạch.
Các chuyên gia tim mạch cho biết, mức độ nguy cơ tương đương một yếu tố nguy cơ tim mạch là sau khoảng 10 năm hoặc những bệnh nhân có protein niệu hoặc mức lọc cầu thận thấp.Bệnh nhân đái tháo đường tuổi càng trẻ, tỷ lệ biến chứng càng cao. Bệnh nhân đái tháo đường đã có bệnh tim mạch càng có nhiều nguy cơ cao hơn, tỷ lệ sống thấp đáng kể. Bệnh nhân trên 40 tuổi, thuốc statin được khuyến cáo điều trị cho bệnh nhân mới được chẩn đoán đái tháo đường tuýp 2 vì có nguy cơ tim mạch cao.
Hiện nay giảm glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường sử dụng thuốc Metformin là lựa chọn đầu tay. Gần đây, thuốc ức chế SGLT2 empagliflozin đã chứng minh được hiệu quả đáng kể lên tử vong do tim mạch (giảm 38%) và tử vong do mọi nguyên nhân (giảm 32%). Vì vậy, ESC 2019 khuyến cáo sử dụng thuốc ức chế SGLT2 như là thuốc đầu tay trong điều trị bệnh nhân đái tháo đường có kèm bệnh tim mạch.
Xét nghiệm microalbumin niệu, nồng độ từ 30-300mg/24h, dự báo tiến triển bệnh thận ở các bệnh nhân đái tháo đường ;còn khi protein hiện diện rõ ràng trong nước tiểu (300mg/24h) cho thấy đã xuất hiện sự phá hủy nhu mô thận. Bệnh nhân đái tháo đường có microalbumi hoặc protein niệu nên được điều trị bằng ACEI hoặc ARB với bất kể huyết áp nền thế nào.
Bệnh nhân đái tháo đường dễ có nguy cơ hình thành huyết khối. Bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị bằng thuốc huyết áp, huyết áp tâm thu mục tiêu nên nhỏ hơn 130mmHg và thấp hơn nếu bệnh nhân dung nạp được. Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài cùng với việc theo dõi định kỳ chặt chẽ.
Về kiểm soát huyết áp, đối với bệnh nhân tăng huyết áp độ 1, điều trị thuốc ngay ở bệnh nhân có nguy cơ trung bình, nguy cơ cao, nguy cơ rất cao hoặc có bệnh tim mạch, bệnh thận hoặc tổn thương cơ quan đích. Bệnh nhân tăng huyết áp độ 1, nguy cơ thấp thực hiện thay đổi lối sống sau 3-6 tháng, nếu không kiểm soát được huyết áp thì sẽ tiến hành điều trị thuốc. Bệnh nhân tăng huyết áp độ 2 và độ 3, điều trị thuốc ngay cùng với thay đổi lối sống. Bệnh nhân tăng huyết áp trên 80 tuổi còn khỏe, ngưỡng huyết áp cần điều trị thuốc và thay đổi lối sống là khi huyết áp tâm thu ≥160/90mmHg. Bệnh nhân tăng huyết áp ≥65-80 tuổi, ngưỡng huyết áp cần điều trị thuốc với thay đổi lối sống là khi huyết áp tâm thu ≥140/90mmHg.
Đối với những trường hợp có huyết áp ở mức bình thường cao (huyết áp tâm thu 130-139mmHg) xử trí phụ thuộc vào mức độ nguy cơ .Thay đổi lối sông áp dụng cho tất cả bệnh nhân. Đối với hầu hết các bệnh nhân, huyết áp mục tiêu cần đạt là ở mức <140/90mmHg, nếu bệnh nhân dung nạp với điều trị, ngưỡng huyết áp mục tiêu nên <130/80mmHg.
Bệnh nhân dưới 65 tuổi, đang điều trị bằng thuốc huyết áp, huyết áp tâm thu nên hạ xuống mức 120-129mmHg. Bệnh nhân ≥65 tuổi, điều trị thuốc hạ huyết áp, huyết áp tâm thu nên đạt 130-139mmHg và theo dõi các tác dụng phụ.
Huyết áp tâm trương mục tiêu ở tất cả bệnh nhân là nhỏ hơn 80mmHg bất kể mức độ nguy cơ và bệnh đồng mắc.
Khi khởi đầu điều trị càng sớm càng dễ đạt được huyết áp mục tiêu khi bệnh nhân chưa có tổn thương nhiều cơ quan đích. Khi điều trị đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài cùng với việc theo dõi chặt chẽ định kỳ./.
Nghi Anh