
Theo PGS.TS Vũ Thị Nhung – Chủ tịch Hội Phụ sản thành phố Hồ Chí Minh ung thư cổ tử cung là một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu.
Tỷ lệ mắc ung cổ tử cung ở các nước đang phát triển cao gấp 10 lần so với các nước phát triển. Tỷ lệ mắc bệnh thấp là kết quả của những chương trình tầm soát tế bào bất thường của cổ tử cung được tiến hành rộng rãi.
Thành phố Hồ Chí Minh năm 1998-1999 tỷ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung là 28,6/100.000 phụ nữ; năm 2003-2004 tỷ lệ này giảm còn 16/100.000 phụ nữ.
Vào năm 1983, Human Papilloma Visus (HPV) týp 16, týp 18 được tác giả Haraldzur Hausen chứng minh là thủ phạm gây ra khoảng 70% ung thư cổ tử cung. Năm 2008 Zur Hausen được trao giải Nobel Y học. HPV lây qua quan hệ tình dục đường âm đạo. Thời gian từ khi nhiễm HPV cho đến khi có triệu chứng ung thư khoảng 15 năm.
Đối với quan hệ tình dục đường miệng, HPV-16 là thủ phạm gây ra ung thư vùng miệng họng. Ở Mỹ hàng năm phát hiện khoảng 14.000 ca ung thư họng mới, trong đó 70% có mối quan hệ tới HPV týp 16. Một nghiên cứu của IARC trên 3.000 trường hợp, phân tích meta 10.000 ca ung thư cổ tử cung trên thế giới cho kết quả có 90% các trường hợp ung thư cổ tử cung là do 8 týp HPV gây ra xếp theo thứ tự tầm soát giảm dần là HPV 16,18,45,31,33,52,58 và 35.
Để phòng ngừa ung thư cổ tử cung cần phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư, điều trị sớm những tổn thương này. Các phương pháp tầm soát những tổn thương này bao gồm:
Quan sát cổ tử cung:
-VIA (Visual Inspection using Acetic acid): Phương pháp chẩn đoán tổn thương cổ tử cung bằng mắt thường sau khi bôi Acetic acid 3%-5% lên cổ ngoài cổ tử cung.
-VILI (Visual Inspection using Lugol’s iodine): Phương pháp chẩn đoán tổn thương CTC bằng mắt thường sau khi bôi dung dịch Lugol’s iodine lên cổ ngoài cổ tử cung. VILI chính là test Schiller.
Tế bào học:
- Pap truyền thống: Trong quy trình Pap truyền thống, tế bào cổ tử cung được trải trên lam kính và các tế bào bất thường của cổ tử cung bong ra trong quá trình thu thập mẫu khi khám phụ khoa sẽ được nhận diện sau khi nhuộm và quan sát dưới kính hiển vi. Kết quả phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chủ quan và khách quan của người đọc kết quả. Phần tế bào được trải trên lam không mang tính đại diện, các tế bào bất thường bị bỏ sót. Hơn 80% mẫu không được sử dụng. Kỹ thuật trải tế bào không tốt, làm che khuất các tế bào bất thường. Điều này khiến độ nhạy của Pap truyền thống chỉ khoảng 84,20% độ đặc hiệu 62,10%. Theo phân tích gộp của Nanda và CS năm 2000: độ nhạy của chẩn đoán CIN2 là 18-98% độ đặc hiệu là 17%-99%.
- Pap nhúng dịch: Giải quyết được nhiều vấn đề giới hạn của phương pháp Pap truyền thông, nhằm cải tiến chất lượng của Pap test. Các kỹ thuật này cung cấp mẫu tế bào đồng nhất, ít tạp chất và hình ảnh nhuộm tốt hơn, tạo điều kiện dễ dàng cho người đọc. Dù độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với Pap cổ điển nhưng vẫn còn tỷ lệ âm tính giả đến 24% nên vẫn còn cần đến những phương pháp xét nghiệm khác bổ sung để giúp hiệu quả tầm soát bệnh tốt hơn.
Xét nghiệm tìm chất chỉ thị sinh học: các chất chỉ thị sinh học được phân thành hai nhóm:
- Từ virus: Xét nghiệm HPV DNA được nhiều tổ chức y tế thế giới khuyến cáo sử dụng kết hợp với xét nghiệm Pap trong tầm soát ung thư cổ tử cung cho phụ nữ ở độ tuổi 30-65 vì khắc phục được các nhược điểm của xét nghiệm Pap.
- Từ tế bào bao gồm: p16NK4a, ki67, TERC, MCM và CDC6…
Soi cổ tử cung: Độ nhạy đối với LSIL là 98,3%, Độ đặc hiệu là 45,1%. Độ nhạy và độ đặc hiệu cho HSIL là 71,4% và 81,3%. Không có tính lặp lại cao, lệ thuộc nhiều vào kinh nghiệm không phải test sàng lọc.
Sinh thiết cổ tử cung: là xét nghiệm chẩn đoán bệnh.
Đối với xét nghiệm HPV: Hiện nay có 2 loại xét nghiệm HPV được FDA công nhận cho phép lưu hành được sử dụng trên thế giới và tại Việt Nam.
Hybrid Capture 2 (HC2, Qiagen, USA) sử dụng phản ứng lai AND đi kèm với khuếch đại tín hiệu là test được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cộng đồng Châu Âu cấp phép lưu hành và sử dụng rộng rãi trên thế giới. HC2 sử dụng các mồi ARN để phát hiện nhiễm bất kỳ týp nào trong số 13 týp nguy cơ cao (16,18,31,33,35,39,45,51,52,56,58,59 và 68). Phương pháp này phát hiện toàn hệ gene giúp hạn chế kết quả âm tính giả do đột biến mất đoạn và các đột biến khác. Số copy AND virus tối thiểu trong mẫu để có kết quả test HC2 (+) là 5.000 copies, đây là ngưỡng tốt hơn nhiều so với phản ứng PCR có độ nhạy phân tích ở ngưỡng 10-100 copies.
Realtime PCR xác định genotype HPV-Cobas 4800: giúp phát hiện hai chủng nguy cơ cao nhất gây ra 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung là chủng HPV 16, HPV 18 và 12 nhóm HPV nguy cơ cao khác (31,33,35,39,45,51,52,56,58,59,66,68), Từ những bằng chứng đầy thuyết phục của nghiên cứu ATHENA và các nghiên cứu khác, ngày 24 tháng 4 năm 2014, FDA duyệt cobas HPV test là xét nghiệm đầu tay được sử dụng đơn độc trong tầm soát ung thư cổ tử cung cho phụ nữ từ 25 tuổi trở lên./.
Mai Trang