
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh. Tuổi của bà mẹ có liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ. Làm sao để những bà mẹ tuổi vị thành niên (độ tuổi từ 10-19 tuổi) sinh con lần đầu thực hành việc nuôi con bằng sữa mẹ tốt, hiệu quả là vấn đề rất đáng quan tâm.
Nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi- Phòng Điều dưỡng, Bệnh viện Hùng Vương TP Hồ Chí Minh- ứng dụng thuyết Weiss nhằm tăng hiệu quả việc nuôi con bằng sữa mẹ với bà mẹ vị thành niên sinh con so.
Mô hình chăm sóc điều dưỡng kết hợp với học thuyết hỗ trợ xã hội của Weiss để thiết lập các hoạt động của hộ sinh trong thời gian bà mẹ nằm tại khoa hậu sản từ ngày thứ nhất đến ngày thứ ba: các cán bộ y tế tiến hành đánh giá các mối quan hệ được thiết lập; tham gia hội nhập xã hội; thúc đẩy nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) cho bà mẹ tuổi vị thành niên sinh con lần đầu; hỗ trợ bà mẹ thích nghi với vai trò bà mẹ.
Nghiên cứu của điều dưỡng Yến Phi được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu có mục đích, 20 bà mẹ vị thành niên sinh lần đầu, trẻ khỏe mạnh chia làm hai nhóm. Nhóm can thiệp (n=10) tại Bệnh viện Hùng Vương nhận sự chăm sóc của hộ sinh có áp dụng học thuyết Weiss; nhóm chứng (n=10) tại Bệnh viện Từ Dũ, nhận được chăm sóc theo quy trình thường quy.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở thời điểm ban đầu, mức độ hiệu quả đạt được trong thực hành NCBSM ở các bà mẹ vị thành niên sinh con lần đầu ở cả hai nhóm đều đạt ở mức độ trung bình. Sau khi can thiệp 3 ngày, có sự thay đổi về mức độ hiệu quả trong thực hành NCBSM. Các nội dung được đánh giá gồm thúc đẩy sự gắn kết tình cảm mẹ con; đạt được năng lực trong vai trò làm mẹ; bày tỏ sự hài lòng trong mối quan hệ gắn bó giữa bà mẹ- trẻ sơ sinh. Hiệu quả của can thiệp ở nhóm can thiệp cao hơn nhóm chứng (p<0,05). Kết quả này giống với quan điểm của Weiss (1974) là mối quan hệ gần gũi có thể giúp con người có cảm giác thoải mái và an toàn để phát huy hết vai trò của mình. Nhóm đồng đẳng như các bà mẹ cùng độ tuổi kết hợp với dịch vụ y tế chuyên nghiệp có hiệu quả trong việc hỗ trợ các bà mẹ NCBSM kéo dài (p=0,01).
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động của người nữ hộ sinh tập trung vào mối quan hệ gắn bó giữa các bà mẹ vị thành niên sau sinh có hiệu quả tốt trong việc NCBSM so với hoạt động chăm sóc thường quy.
Tác giả nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị là cần có chính sách hỗ trợ thiết thực cho phép các bà mẹ sau sinh được tiếp xúc với người nhà và những bà mẹ đã NCBSM thành công để hỗ trợ bà mẹ vị thành niên tiếp tục NCBSM và gửi thông điệp đến các bà mẹ rằng NCBSM luôn được mọi người ủng hộ. Các cán bộ quản lý y tế cần khuyến khích nhân viên y tế tư vấn NCBSM cho các bà mẹ, đưa ra các giải pháp thích hợp để hỗ trợ, qua đó đạt được mục tiêu NCBSM và tích cực chia sẽ kinh nghiệm NCBSM thành công cho các bà mẹ khác.
Chúng ta cần biết rằng, việc được các chuyên gia chăm sóc sức khỏe hỗ trợ; được gia đình, bạn bè hỗ trợ sẽ giúp các bà mẹ vị thành niên sinh con lần đầu bắt đầu và tiếp tục duy trì NCBSM. Bà mẹ tuổi vị thành niên sẽ kéo dài việc cho con bú mẹ nếu họ nhận thức được rằng NCBSM là một phương pháp phổ biến được xã hội công nhận. Các bà mẹ trẻ cùng độ tuổi sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến việc duy trì NCBSM kéo dài đến 6 tháng.
Tương tác mẹ-con rất quan trọng, tình cảm mẹ con gắn kết giúp người mẹ đáp ứng nhu cầu của con mình, đặc biệt đưa ra quyết định cho con bú mẹ trong tuần lễ đầu sau sinh. Bằng thái độ trìu mến, bà mẹ tuổi vị thành niên lần đầu làm mẹ có thể xác định mối quan hệ hài hòa, bền vững, đồng điệu với những cảm xúc của trẻ sơ sinh và cải thiện vai trò làm mẹ của mình trong thời gian cho con bú để giúp trẻ phát triển tốt.
Hoa Phượng