
Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng nhanh ở những thành phố lớn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính đến năm 2025 sẽ có khoảng 330 triệu người mắc bệnh trên toàn thế giới.
Hiện tại, Châu Á có khoảng 90 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó Việt Nam có khoảng 2,5 triệu người. Kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2012 cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường toàn quốc là 5,4%; cụ thể các vùng miền núi phía Bắc 4,8%; Đồng bằng sông Hồng 5,8%; Duyên hải miền Trung 6,4%; Tây Nguyên 3,8%; Đông Nam bộ 5,9%; Tây Nam bộ 7,1%. Tỷ lệ mắc rối loạn dung nạp đường máu dao động từ 10,7% đến 17,5%. Tỷ lệ người mắc đái tháo đường không được phát hiện trong cộng đồng là 63,6%. Sau 10 năm, tỷ lệ bệnh đái tháo đường tại Việt Nam tăng từ 2,7% lên 5,42% (tăng 201%), đây là tỷ lệ báo động về sự gia tăng đái tháo đường tại Việt Nam.
Phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường bao gồm chế độ ăn uống, tập luyện thể dục và dùng thuốc. Những bệnh nhân điều trị ngoại trú, được bác sĩ chỉ định tiêm Insulin thì vấn đề kỹ thuật tiêm đúng là vô cùng quan trọng. Nếu tiêm Insulin đúng kỹ thuật sẽ góp phần rất lớn vào thành công trong điều trị, nếu bệnh nhân tiêm không đúng kỹ thuật sẽ gây ra các biến chứng nặng nề như hạ đường huyết hoặc không giữ được mức đường huyết ổn định.
Theo nghiên cứu của điều dưỡng Ngô Thị Kim Anh cùng cộng sự “Khảo sát kỹ thuật tiêm Insulin của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện C Đà Nẵng” cho thấy chỉ có 70% bệnh nhân biết đúng vùng tiêm và 35% bệnh nhân có các biến chứng sau tiêm. Nghiên cứu được thực hiện trên 77 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nữ giới chiếm tỷ lệ 68,8%; nhóm tuổi > 60 tuổi chiếm 84%; bệnh nhân phát hiện đái tháo đường 5-10 năm có tỷ lệ 37%; trên 10 năm là 57%. Phân bố bệnh nhân theo thời gian bắt đầu tiêm Insulin là dưới 1 năm có 24 bệnh nhân (31,2%); 1-5 năm có 41 bệnh nhân (53,2%); từ 5-10 năm có 04 bệnh nhân (5,2%) và trên 10 năm là 10,4%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên 70% bệnh nhân được kiểm soát có hiểu biết đúng về vùng tiêm, trong đó vùng bụng được bệnh nhân tự tiêm nhiều nhất, chiếm 89,6% do thói quen, dễ thực hiện, ít đau. Đối với kỹ thuật tiêm, đa số bệnh nhân đều biết các thao tác chuẩn bị trước khi tiêm như rửa tay sát trùng chiếm 97,4%; tuy nhiên có đến 98,3% bệnh nhân không biết bơm khí vào lọ trước khi rút Insulin, chính điều này làm bệnh nhân lấy thuốc khó và không đúng liều đơn vị Insulin.
Phần lớn bệnh nhân chưa biết kỹ thuật tiêm đúng để tự tiêm cho mình, chưa véo da khi tiêm 62,2%, không giữ kim trong da sau khi tiêm trên 10 giây chiếm 76,6%; có thuốc ra ngoài sau khi rút kim là 33,8%; chưa luân chuyển vùng tiêm 32,5%; không chú ý đến mũi kim lần tiêm trước 81,8%. Đây là những nguyên nhân dẫn đến nhiều biến chứng sau này trên bệnh nhân tiêm Insulin lâu ngày.
Đối với hiểu biết của bệnh nhân về dụng cụ tiêm, có 81,8% số bệnh nhân chọn loại bơm kim tiêm đúng, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bơm kim tiêm từ 02 lần trở lên chiếm tỷ lệ cao 76,6%; điều này không bảo đảm vô khuẩn, có nguy cơ về nhiễm khuẩn vùng tiêm cao và gây chấn thương các lớp da yếu, từ đó dễ gây biến chứng phì đại mô mỡ.
Nghiên cứu cũng đưa ra kết quả lưu ý là 100% bệnh nhân chưa có hiểu biết đúng về xử lý bơm kim tiêm sau khi sử dụng, đây là nguồn rác thải lây nhiễm nguy hiểm ra những người xung quanh và môi trường, cán bộ y tế cần truyền thông giáo dục để người bệnh biết phân loại rác thải xử lý đúng nguyên tắc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 52% bệnh nhân có ý thức tự kiểm tra vùng tiêm; số còn lại do bệnh nhân quên hoặc do bệnh nhân chưa được hướng dẫn đúng cách tự kiểm tra vùng tiêm. Điều này đòi hỏi cán bộ y tế cần tăng cường kiểm tra vùng tiêm và hướng dẫn cách tự kiểm tra vùng tiêm cho người bệnh giúp phát hiện biến chứng sớm.
Đối với biến chứng tiêm Insulin trên bệnh nhân, kết quả nghiên cứu cho thấy có 35% bệnh nhân nổi nốt dưới da tại chỗ tiêm; đau buốt nơi tiêm 36,4%; chảy máu nơi tiêm 39%; biến chứng phì đại mô mỡ vùng bụng chiếm tỷ lệ gần 50%; điều này được giải thích do bệnh nhân chủ yếu tiêm vùng bụng chưa thực hiện luân chuyển vùng tiêm; không chú ý đến mũi kim tiêm lần trước, sử dụng bơm kim tiêm một lần chỉ có 76,6%.
Nghiên cứu cũng cho thấy chỉ có 54,5% bệnh nhân được hướng dẫn các biến chứng có thể xảy ra trong khi tiêm Insulin; còn 45,5% bệnh nhân phải dựa vào nguồn thông tin khác và những kênh thông tin này chưa thật sự đúng.
Nghiên cứu cũng đưa ra mặc dù 100% bệnh nhân được cán bộ y tế hướng dẫn kỹ thuật tiêm Insulin, nhưng cán bộ y tế (điều dưỡng) cần phải được tập huấn cập nhật chuyên sâu về kỹ thuật tiêm Insulin, đặc điểm hấp thu thuốc tại các mũi tiêm khác nhau; lưu ý những bệnh nhân lớn tuổi dễ quên, cần có thêm tờ rơi, tài liệu rõ ràng hướng dẫn cho người bệnh.
Nghiên cứu cũng đã đưa ra kiến nghị là cần thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt câu lạc bộ bệnh nhân đái tháo đường, hướng dẫn kỹ thuật tiêm Insulin, xử lý bơm kiêm tim sau khi sử dụng.
Mai Trang