[Đăng ngày: 04/08/2015]
Ở phụ nữ không mang thai, lượng máu qua gan chiếm khoảng 35% cung lượng tim. Cung lượng tim tăng dần khi bắt đầu thai kỳ cho đến khoảng ba tháng giữa, sau đó giảm dần gần như bình thường vào lúc sinh.
Khi có thai, lượng máu đến gan giảm còn 28%, sư thay đổi này do một khối lượng máu đi qua nhau thai. Nồng độ albumin trong máu giảm vào ba tháng đầu thai kỳ và tiếp tục giảm trong thai kỳ. Thời gian prothrombin không thay đổi nhưng nồng độ fibrinogen lại tăng vào cuối thai kỳ. Nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh tăng vào giai đoạn cuối của thai kỳ do việc hình thành các isoenzyrem ở nhau và xương. Nồng độ AST và ALT bình thường trong thai kỳ: GGT (7-glutamyltransferase) giảm vào ba tháng cuối thai kỳ. Bilirubin toàn phần, trực tiếp và gián tiếp giảm trong thai kỳ. Nồng độ axit mật toàn phần trong huyết thanh lúc đói trong giới hạn bình thường (xét nghiệm này dùng để chẩn đoán tắc mật trong thai kỳ).
Trường hợp thai phụ có AST, ALT, bilirubin, axit mật tăng có thể họ có một bệnh lý cần được khảo sát.
Y văn cũng đã chỉ ra một số bệnh gan chỉ xảy ra ở thai phụ gồm thai tiên phát ở vùng gan; ói mửa lúc mang thai; tắc mật trong gan lúc mang thai; bệnh gan tiền sản giật ( hội chứng HELLP); gan hóa mỡ cấp trong thai kỳ. Tuổi thai vào thời điểm xuất hiện triệu chứng rất quan trọng để chẩn đoán phân biệt. Ói mửa lúc mang thai xuất hiện rất sớm, thường ba tháng đầu của thai kỳ; còn tắc mật trong gan lúc mang thai chỉ gặp ba tháng giữa và cuối. Tiền sản giật được ghi nhận vào giữa giai đoạn cuối của thai kỳ; hội chứng HELLP chỉ xảy ra vào ba tháng cuối.
Đối với thai tiên phát ở vùng gan bệnh rất hiếm gặp, bệnh nhân thường có dấu hiệu xuất huyết trong phúc mạc. Nếu thai kỳ phát triển, bệnh nhân thường có một khối to ở vùng gan. Thai tiên phát ở vùng gan được chẩn đoán bằng siêu âm hoặc CTscan.
Đối với ói mửa lúc mang thai, gần 50% thai phụ phát hiện sớm trong 3 tháng đầu thai kỳ, nguyên nhân do co thắt dạ dày bất thường nhanh hơn lúc chưa mang thai. Những trường hợp ói mửa kéo dài, sụt cân >5% thể trạng, gây mất sức nặng cần phải nhập viện. Nôn ói xuất hiện vào tuần 4-10 của thai kỳ, khó điều trị nhưng tự biến mất sau 20 tuần không cần điều trị gì đặc biệt. Nôn ói thường gặp ở phụ nữ mang thai lần đầu nhiều hơn so với phụ nữ sinh nhiều lần.
Một khi gan bị tổn thương, dấu hiệu nổi bật nhất là ALT và AST tăng. Thường ALT tăng nhiều hơn AST, thông thường không quá 250 IU/L; nhưng một số trường hợp nặng có khi vượt quá 1000 IU/L kèm theo bilirubin tăng. Tình trạng nôn ói dữ dội có thể ảnh hưởng cân nặng thai phụ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến trẻ sơ sinh.
Đối với bệnh tắc mật trong gan lúc mang thai, thường xảy ra vào 3 tháng giữa và cuối của thai kỳ. Triệu chứng chính là ngứa xuất hiện ở bàn tay, bàn chân. Ngứa gây khó chịu, mất ngủ. Tuy nhiên, ngứa có thể biến mất tự nhiên một vài ngày sau sinh.
Bệnh thường kèm nhiễm trùng đường tiểu, 10% có vàng da-niêm. Siêu âm thường không phát hiện dãn đường dẫn mật, đôi khi có sỏi túi mật. Xét nghiệm ALT tăng (cần xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán phân biệt viêm gan do vi rút); xét nghiệm nồng độ axit mật trong huyết thanh. Về nguyên tắc, ALT và axit mật giảm và trở về bình thường trong vòng một vài tuần sau sinh. Xét nghiệm thời gian prothrombin bình thường, kéo dài trong trường hợp tắc mật nặng, có thể do thiếu vitamin K. Bệnh nhân cần được điều trị phòng ngừa nguy cơ xuất huyết.
Tắc mật trong gan có thể gây sinh sớm, tỷ lệ này tăng lên ở phụ nữ sinh nhiều lần. Để điều trị, gần đây bác sĩ sử dụng ursodeoxy cholic axit giúp giảm bớt ngứa, ngăn ngừa sinh non, cải thiện chức năng gan, không gây bất lợi cho mẹ và con. Đây là một axit mật ái thủy, giảm tắc mật bằng cách bảo vệ tế bào gan chống lại tác dụng gây độc gan của axit mật kỵ thủy, cải thiện sự di chuyển muối mật qua nhau.
Trong thai kỳ, bệnh gan thường gặp nhất là bệnh gan liên quan đến tiền sản giật. Tiền sản giật gặp 2-7% phụ nữ mang thai lần đầu, bệnh liên quan đến sức khỏe cả mẹ và con. Ở những thai phụ bị tiền sản giật rất dễ bị co mạch, việc tưới máu đến các cơ quan giảm, trong đó có gan vì vậy dễ gây ra sự tổn thương đa phủ tạng. Yếu tố nguy cơ gây xuất hiện tiền sản giật là sự hiện diện của kháng thể antiphospholipid, người bệnh có sẵn bệnh đái tháo đường, chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) cao >35kg/m2; người bệnh có tăng huyết áp; tiền sử gia đình có tiền sản giật, sinh đôi, tuổi của mẹ lớn hơn 40 tuổi; mẹ mang thai lần đầu…Biểu hiện lâm sàng điển hình của tiền sản giật là cao huyết áp, protein niệu hiện diện vào nửa cuối của thai kỳ. Bệnh nhân có thể rơi vào suy thận, co giật (sản giật), viêm tụy, phù phổi. Bệnh gan ở thai phụ khá phức tạp, chăm sóc điều trị cho phụ nữ trẻ đang mang thai rất quan trọng, giúp họ ổn định được sức khỏe trong quá trình mang thai, giúp họ chuyển dạ và sinh con càng bình thường càng tốt và mau bình phục sau sinh.
Với sự tiến bộ của y học, nhiều nghiên cứu thực hiện từ thực tiễn, hy vọng bệnh gan ở phụ nữ mang thai có được cách tiếp cận hợp lý và chăm sóc điều trị tốt nhất cho phụ nữ mang thai, nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khỏe cả mẹ và con cho cả gia đình của họ.
Quốc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 241

Số lượt truy cập: 9299565

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang