[Đăng ngày: 16/06/2015]
Tại Châu Á và Việt Nam, ung thư Đại trực tràng đứng hàng thứ hai trong ung thư đường tiêu hóa sau ung thư dạ dày. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật. Phẫu thuật nội soi hiện nay đã được triển khai tại các Trung tâm Y tế lớn tại Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Huế. Tháng 3/2013, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã bắt đầu tiến hành phẫu thuật nội soi điều trị cho các trường hợp ung thư Đại trực tràng.
    Tại Hội nghị khoa học trẻ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa mở rộng vào tháng 5/2015, nhóm nghiên cứu BS. Trương Đình Khôi, Đỗ Hoài Kỷ, Ngô Thế Lâm đã có báo cáo đề tài “Kết quả bước đầu điều trị ung thư Đại trực tràng bằng phẫu thuật nội soi (PTNS) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa”, đề tài đã thu hút được nhiều đại biểu quan tâm. Theo BS. Trương Đình Khôi, trong 06 bệnh nhân ung thư Đại tràng được PTNS có 05 trường hợp u Đại tràng phải, 01 trường hợp u Đại tràng sigma. Thời gian phẫu thuật ngắn nhất là 180 phút, dài nhất 500 phút. So với những trường hợp mổ hở, thời gian PTNS kéo dài hơn. Ưu điểm đáng lưu ý của PTNS cắt Đại trực tràng so với mổ hở là bệnh nhân ít đau. Theo thang điểm đau sau mổ Visual Analogue Scale đạt 4-6, là ở mức độ trung bình. Một ưu điểm khác là PTNS giúp người bệnh trung tiện trở lại sau mổ rất sớm, trong vòng 48-72 giờ. Do đây là những trường hợp mổ đầu tiên của bệnh viện, nên bệnh nhân mổ được nuôi dưỡng đường tĩnh mạch sau mổ 05 ngày, ống dẫn lưu được rút sau 05 ngày. Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân là 11 ngày. Cả 06 bệnh nhân đều không có biến chứng sớm sau mổ như nhiễm trùng vết mổ, chảy máu ổ bụng, tụ dịch ổ bụng, dò miệng nối.. Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, điều trị ung thư Đại tràng là mổ cắt rộng đoạn Đại tràng mang bướu cùng với hạch mạc treo. Các nghiên cứu đã chỉ ra không có sự khác biệt về mặt ung thư học giữa PTNS và PT mổ cắt Đại tràng do ung thư PTNS đã giúp cho người bệnh giảm được số ngày nằm viện, sử dụng thuốc giảm đau ít hơn.
    Cũng theo BS. Khôi, các bệnh nhân đã được theo dõi sau xuất viện 1, 3, 6 tháng và không ghi nhận có biến chứng muộn nào. Một lưu ý hạn chế là do điều kiện chủ quan và khách quan nên bệnh nhân chưa được thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh; định lượng CEA để đánh giá mức độ tái phát sau phẫu thuật. BS. Khôi đã có khuyến nghị là cần có nghiên cứu lâu dài hơn để đánh giá tỷ lệ tái phát và thời gian sống còn của bệnh nhân.
    Chúng ta biết rằng những người trên 50 tuổi, béo phì, có polyp trong ruột, gia đình có nhiều người có đa polyp ở ruột; có người thân bị ung thư, có sử dụng thường xuyên thuốc lá, rượu, ăn nhiều chất mỡ, nhiều thịt đỏ, ít chất xơ là những yếu tố nguy cơ gây ra ung thư Đại trực tràng.
    Ung thư ở giai đoạn sớm rất im lìm, về sau có các triệu chứng như thay đổi thói quen của ruột: tiêu chảy, táo bón, tiêu chảy xen táo bón. Đau bụng ngấm ngầm, đầy hơi. Phân nhỏ lại hoặc thay đổi độ dẻo. Đi cầu ra máu hoặc phân dính máu. Người mệt mỏi, uể oải, sụt cân, mất máu không lý do.
    Để phòng ngừa và phát hiện sớm, chúng ta cần đổi chế độ ăn và nếp sống. Chế độ ăn lành nhiều rau trái tươi, ít béo và nhiều chất xơ, ít thịt đỏ có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột. Kiểm tra phát hiện bằng nội soi ruột. Tỷ lệ tử vong do ung thư Đại tràng đã giảm xuống trong những năm gần đây. Đó là nhờ sự tăng thêm cảnh giác và kiểm tra phát hiện sớm bằng nội soi ruột.
    Ống soi mềm có thể phát hiện các ung thư ở giai đoạn sớm nhất, nhờ đó chữa khỏi bệnh. Từ tuổi 50, đàn ông và phụ nữ nên kiểm tra phát hiện. Ai có nguy cơ cao thì nên xét nghiệm sớm hơn. Khi soi bác sĩ có thể thấy một hoặc vài chồi thịt có cuống gọi là pôlýp lành. Cắt bỏ các pôlýp này là phòng ngừa hiệu quả ung thư.  
Pôlýp là cấu trúc mô tăng sinh lồi lên từ nội mạc ruột già hoặc đoạn trực tràng. Hầu hết pôlýp lành tính không phát triển thành ung thư. Familial adenomatous polyposis (FAP - là chứng đa pôlýp có yếu tố di truyền) là bệnh di truyền hiếm với hàng trăm pôlýp phát triển trong ruột già và ruột thẳng. Do bệnh có nguy cơ cực kỳ cao dẫn tới ung thư Đại tràng nên thường được chữa trị bằng phẫu thuật cắt bỏ đại tràng và trực tràng.
    Tiền sử bản thân: Người từng bị ung thư Đại tràng có nguy cơ cao tái phát bệnh. Ngoài ra, các nghiên cứu nhận thấy một số phụ nữ có tiền sử mắc ung thư buồng trứng, cổ tử cung hoặc tuyến vú có nguy cơ bị ung thư Đại tràng cao hơn bình thường. Tiền sử gia đình: Họ hàng gần (cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con) của bệnh nhân cũng có khả năng mắc bệnh, đặc biệt nếu người đó phát bệnh lúc trẻ. Nếu gia đình có nhiều người bị ung thư Đại tràng thì nguy cơ mắc bệnh tăng cao hơn.
Viêm loét Đại tràng hay viêm ruột mạn tính: Bệnh gây viêm và loét nội mạc ruột già. Viêm ruột mạn tính thường xảy ra ở hệ ruột – dạ dày, phần lớn là ruột non. Người bị viêm loét đại tràng hoặc viêm ruột mạn tính có nguy cơ mắc ung thư Đại tràng cao hơn người không bị một trong hai bệnh này.
Bảo Trâm
 
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 257

Số lượt truy cập: 9299789

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang