
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Quản lý Khám chữa bệnh –Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn- Bộ xây dựng; năm 2009-2010, tổng lượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại. Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86kg/giường/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại tính trung bình là 0,14-0,2kg/giường/ngày.
Hầu hết, các chất thải rắn y tế là các chất thải lây nhiễm và mang tính đặc thù so với các loại chất thải rắn khác. Các loại chất thải này nếu không được phân loại tốt tại nguồn thì có khả năng gây ra những nguy cơ tiềm ẩn cho môi trường.
Trong chất thải rắn y tế, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng chất thải rắn y tế nguy hại, do nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người và môi trường. Lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn.
Nguyên tắc quản lý chất thải rắn y tế theo thứ tự gồm giảm thiểu (Reduce), tái sử dụng (Reuse) và tái chế (Recycle) nên còn gọi là 3R. Giảm thiểu là nội dung hiệu quả nhất trong 3 giải pháp R cho sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chất thải. Về mặt nội dung, giảm thiểu có thể được coi là sự tối tưu hóa quá trình với việc sản xuất ra lượng sản phẩm cao nhất, nhưng thải ra môi trường một lượng chất thải thấp nhất. Quá trình này đòi hỏi phải vận dụng kỹ năng hiểu biết không chỉ về sản phẩm, dòng thải như tái chế hay tái sử dụng, mà còn phải nắm rõ về quá trình sản xuất, loại nguyên nhiên liệu hay năng lượng sử dụng cho đầu vào. Ý tưởng của giảm thiểu chất thải không phải là áp dụng những tiến bộ công nghệ để xử lý chất thải mà là sử dụng các công nghệ và nguồn lực hiện có để thu được kết quả tốt nhất trong công tác quản lý chất thải.
Đối với tái sử dụng có ưu điểm tiết kiện năng lượng và nguyên liệu thô cho hoạt động sản xuất, giảm được chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý vật chất thải; tuy nhiên tái sử dụng có một số nhược điểm như: nhiều loại sản phẩm, khi tái sử dụng thường có hiệu suất kém, tiêu hao năng lượng gây tác động xấu đến môi trường, đồng thời phải tốn chi phí làm mới và vận chuyển.
Sản phẩm tái sử dụng thường đòi hỏi bền hơn và thời hạn sử dụng lâu hơn, do đó sẽ tốn cho phí sản xuất ban đầu. Phục hồi, làm mới sản phẩm thường tốn thời gian và gây tác động nhất định đến môi trường.
Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu, sản phẩm thải bỏ thành những vật liệu, sản phẩm mới. Quá trình tái chế ban đầu có mục tiêu ngăn chặn lãng phí nguồn tài nguyên, tiết kiệm chi phí thông qua giảm tiêu thụ nguyên liệu thô cũng như nhiên liệu sử dụng so với quá trình sản xuất cơ bản từ nguyên liệu thô. Tái chế có thể chia thành hai dạng, tái chế ngay tại nguồn từ quy trình sản xuất và tái chế nguyên liệu từ sản phẩm thải.
Các ưu điểm của quá trình tái chế có thể được liệt kê ra như sau: tận dụng được nguồn nguyên liệu có thể sử dụng thay vì sản xuất từ nguyên liệu thô, qua đó tiết kiệm chi phí khai thác, xử lý nguồn nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng; giảm thiểu được lượng chất thải cần xử lý, qua đó giảm thiểu được chi phí, năng lượng cần thiết để xử lý nguồn thải này theo các giải pháp truyền thống; tăng them việc làm trong lĩnh vực tái chế.
Các danh mục tái sử dụng có thể là dao mổ, các thùng chứa chất tẩy, dung dịch với điều kiện thùng không bị thủng. Bình chứa áp suất nên đổi cho nhà cung cấp khi lắp bình mới. Các loại chất thải y tế như kim loại, giấy, thủy tinh và nhựa có thể được tái chế thu hồi nguyên liệu. Tái chế do những tổ chức, cá nhân được hoạt động theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Quế Lâm