[Đăng ngày: 13/03/2019]
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được toàn thế giới quan tâm do tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng về tần suất và tử vong.

Tần suất bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới ước lượng khoảng 7-19%, khoảng 11,8% đối với nam và 8,5% đối với nữ. Tỷ lệ mắc bệnh tăng 30% đối với nữ trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20. 

Tại Việt Nam, báo cáo tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở những người từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, miền Bắc nhiều hơn miền Nam. Các yếu tố tiên lượng tử vong gồm tuổi, mức độ khó thở theo MRC, FEV1 so với giá trị dự đoán, nhiều đợt cấp trong tiền sử, bệnh đồng phát, tiền sử sử dụng Corticosteroid đường uống kéo dài, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng nguy cơ. Một số nghiên cứu ở Việt Nam nhận xét tỷ lệ bệnh nặng và tử vong trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 10% đến 18%. Các yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm rối loạn tri giác, nhịp thở > 30 lần/phút, chỉ số pH PaCO2, PaO2/FiO2, FEV1 so với giá trị dự đoán. Việc quản lý và điều trị dự phòng, tránh các đợt bùng phát cấp tính gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải nhập viện là điều cần thiết và nên làm nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, cải thiện được chức năng hô hấp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền cùng cộng sự Khoa Y Dược, trường Đại học Trà Vinh thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang”.

Có 120 đối tượng nghiên cứu tham gia, đối tượng nghiên cứu đã có chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước đó: dựa vào kết quả đo chức năng hô hấp từ hồ sơ quản lý ngoại trú trong vòng 12 tháng với FEV1/FVC < 70% sau dùng thuốc dãn phế quản. Bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: chẩn đoán sơ bộ theo thang điểm CT-COPD: tiêu chuẩn lâm sàng > 140 điểm hoặc tiêu chuẩn lâm sàng và X quang ngực > 210 điểm. Các bệnh nhân này được tái chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau xuất viện 8 tuần bằng cách đo chức năng hô hấp ở phòng khám hô hấp: FEV1/FVC < 0,7 sau dùng thuốc dãn phế quản.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: dựa trên ba triệu chứng lâm sàng chính là: khó thở, tăng lượng đàm và đàm có nhầy mủ.

Bác sĩ Phạm Thế Hiền phân tích về đặc điểm tri giác, trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, triệu chứng rối loạn thần kinh trung ương có thể thay đổi từ kích thích đến giảm đáp ứng. Rối loạn này có thể xuất hiện trước triệu chứng hô hấp hoặc có thể là biểu hiện lâm sàng duy nhất, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi và tăng CO2 mạn tính. Nghiên cứu có 32,5% bệnh nhân rối loạn tri giác trong đợt cấp nhập viện. Các nghiên cứu khác có tỷ lệ bệnh nhân rối loạn tri giác như trong nghiên cứu của Roche N là 11%, của Trần Ngọc Văn (2011) là 6,1%. Aburto M (2011) đánh giá tri giác dựa vào thang điểm Glasgow, điểm Glasgow trung bình là 14,5 + 1,5.

Dấu hiệu sinh tồn - huyết áp: Nghiên cứu cho kết quả huyết áp tâm thu trong đợt cấp nhập viện là 137,75 + 24,06 mmHg. Huyết áp tâm trương lúc mới nhập viện có trung vị là 78,5 + 11,49 mmHg, cao nhất là 110 mmHg, thấp nhất là 50 mmHg. Không có trường hợp tụt huyết áp. Kết quả này không khác nhiều so với các nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước. Huyết áp trung bình trong nghiên cứu của Trần Xuân Quỳnh (2014) là 135,2 + 25,3/80 mmHg, của Đỗ Quyết (2009) là 125,79 +  11,92, 73,48 + 14,55 mmHg, của Trần Thị Hằng (2011) là 129,63 + 10,18/ 77,45 + 8,43 mmHg, của Roche N (2008) là 144 + 28/78 + 16 mmHg. Huyết áp tâm thu trung bình trong nghiên cứu của Stiell IG (2014) là 140,9 mmHg.

Đối với mạch: Oxy cung cấp cho mô được tính bằng tích của cung lượng tim và tổng lượng phân tử oxy trong máu động mạch. Trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh nhân có tình trạng suy hô hấp giảm oxy máu. Khi đó, duy trì oxy cung cấp cho các mô được thực hiện bằng cách tăng cung lượng tim. Do đó, các bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường có mạch nhanh. Mạch trong đợt cấp nhập viện trong nghiên cứu là 102,4 + 16,35 lần/phút, tương tự kết quả trong các nghiên cứu khác. Mạch trung bình theo Trần Thị Hằng (2011) là 96,4 + 11,8 lần/phút, theo Trần Xuân Quỳnh (2014) là 106,8 + 17,6 lần/phút, theo Roche N (2008) là 98,5 + 19,8 lần/phút. Tỷ lệ bệnh nhân có mạch > 100 lần/phút trong nghiên cứu của Dewan NA (2000) là 18%.

Đối với nhịp thở, kết quả nhịp thở trong đợt cấp nhập viện là 28,36 + 8,29 lần/phút. Nghiên cứu của Stiell IG cho kết quả tương tự 23,6 + 5,9 lần/phút. Theo Trần Xuân Quỳnh, nhịp thở trung bình là 23,6 + 3,3 lần/phút. Theo Đỗ Quyết, nhịp thở trung bình là 24,85 + 1,58 lần/phút. Kết quả này theo Trần Thị Hằng là 25,43 + 2,19 lần/phút. Nhịp thở trung bình trong nghiên cứu của Roche N là 26,9 + 7,2 lần/phút. Theo Dewan NA tỷ lệ bệnh nhân có nhịp thở > 30 lần/phút chiếm 1%.

Bác sĩ Phạm Thế Hiền có kết luận, tỷ lệ rối loạn tri giác là 32,5%. Dấu hiệu sinh tồn: mạch nhanh 102 lần/phút và nhịp thở nhanh 28 lần/phút. Triệu chứng suy hô hấp: xanh tím chiếm 42,50%, 100% co kéo cơ hô hấp phụ mức độ trung bình – nặng và độ bão hòa oxy trung bình là 88,47%. Có 43,3% bệnh nhân có phù chi dưới. Số lượng bạch cầu trung bình 11050/mm3. Nồng độ CRP trung bình là 78 mg/dl. Khí máu động mạch: pH máu trung bình 7,30, PaCO2 = 54,34 mmHg, PaO2 = 75,28 mmHg, HCO3 = 25,66 mmol/l. Tỷ lệ rối loạn nhịp trên điện tâm đồ là 42,5% và 35% dầy nhĩ phải.
Lâm Quyên


    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 157

Số lượt truy cập: 9350634

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang