[Đăng ngày: 20/11/2020]

Theo thống kê, cứ khoảng 10 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có 01 người gặp phải tình trạng lạc nội mạc tử cung, độ tuổi hay gặp từ 30-40 tuổi.

 

Lạc nội mạc tử cung là tình trạng xảy ra khi các tế bào nội mạc tử cung (màng trong tử cung, mô hình thành nên lớp niêm mạc tử cung) được tìm thấy bên ngoài tử cung của phụ nữ. Bệnh có thể gây ra vô sinh do khả năng làm tổn thương vòi trứng và ống dẫn trứng, cản trở nhu động ống dẫn trứng và làm rối loạn sự phóng noãn. 

 

Theo các bác sĩ sản khoa, những vùng thường xảy ra lạc nội mạc tử cung là phúc mạc (màng bụng), buồng trứng, ống dẫn trứng, bề mặt ngoài của tử cung, bàng quang, niệu quản, ruột và trực tràng, túi cùng vùng thấp nhất của ổ bụng.

 

Các mô bị lạc này có thể phát triển , gây chảy máu tương tự như niêm mạc tử cung trong chu kỳ kinh nguyệt. Tình trạng này gây ảnh hưởng đến những mô xung quanh, gây kích thích, viêm và sưng. Sự phá hủy và gây chảy máu của các mô này mỗi tháng làm hình thành nên mô sẹo gọi là sự kết dính đôi khi làm các cơ quan bị dính vào nhau. Chảy máu, viêm và hình thành mô sẹo có khả năng gây ra đau đặc biệt là trong khoảng thời gian trước và trong khi có kinh nguyệt.

 

Bệnh lạc nội mạc tử cung có thể gây tỷ lệ 40% phụ nữ bị vô sinh, nguyên nhân do tình trạng viêm làm hỏng tinh trùng hoặc trứng trong quá trình thụ tinh hoặc cản trở sự di chuyển của chúng qua ống dẫn trứng và qua tử cung. Nếu ống dẫn trứng bị dính, bị mô sẹo càng làm tăng khả năng vô sinh.

 

Theo các bác sĩ chuyên khoa sản, triệu chứng phổ biến của lạc nội mạc tử cung là đau vùng chậu mãn tính đặc biệt ngay trước và trong kỳ kinh nguyệt. Có thể cơn đau xuất hiện khi quan hệ tình dục. Nếu mô nội mạc tử cung xuất hiện ở ruột, đi cầu có thể bị đau; nếu ở bàng quang đi tiểu cảm thấy đau. Bên cạnh đó, máu kinh ra nhiều bất thường, có những phụ nữa mắc bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng nào. 

 

Để chẩn đoán lạc nội mạc tử cung người bệnh cần được nội soi, có khi cần phải sinh thiết nội mạc tử cung. Tùy theo triệu chứng bệnh, bác sĩ sẽ điều trị bằng thuốc, phẫu thuật hoặc cả hai phương pháp. Các thuốc sử dụng là thuốc giảm đau, thuốc nội tiết tố, thuốc tránh thai, thuốc chỉ có progestin, thuốc tiết gonadotropin. Thuốc nội tiết sẽ góp phần làm chậm sự phát triển của mô nội mạc tử cung, ngăn cản sự kết dính. Thuốc không thể loại bỏ mô lạc nội mạc tử cung. Phẫu thuật là biện pháp thực hiện để giảm đau và cải thiện khả năng sinh sản. Phẫu thuật cũng giúp loại bỏ những nơi khác nhau trong cơ thể có mô lạc nội mạc tử cung. Sau phẫu thuật có khoảng 40-80% phụ nữ có cơn đau trở lại sau 2 năm, do khi mô không xác định được để loại bỏ hoàn toàn những mô có lạc nội mạc tử cung. Người mắc bệnh nặng nguy cơ tái phát càng tăng lên. Sử dụng thuốc tránh thai hoặc các thuốc khác theo chỉ định của bác sĩ sau phẫu thuật sẽ giúp kéo dài thời gian bệnh tái phát.

 

Một số bệnh nhân nếu sau điều trị vẫn đau nghiêm trọng thì mổ cắt bỏ tử cung là biện pháp cuối cùng. Bệnh lạc nội mạc tử cung gần như sẽ khỏi hẳn khi người phụ nữ bắt đầu mang thai và sẽ khỏi dứt điểm khi đến thời kỳ mãn kinh, lúc đó buồng trứng của phụ nữ không còn hoạt động nội tiết nữa. Một khi người phụ nữ hiểu biết rõ về bệnh, tình trạng đau đớn và khó chịu sẽ nhẹ đi rất nhiều.

 

Các bác sĩ cho biết, đối với lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng, dấu hiệu hay gặp là đau quặn bụng trong chu kỳ kinh nguyệt, rối loại kinh nguyệt, đau khi đi vệ sinh, ruột bị co rút khi đi tiểu, đau khi quan hệ tình dục, đau khi tập thể dục các động tác uốn cong, kéo dãn, cơn đau dữ dội có thể là dấu hiệu buồng trứng bị xoắn.

 

Thường những  nang buồng trứng dạng lạc nội mạc tử cung có kích thước 1-2cm thì không cần mổ, một số phụ nữ có thể mang thai, sinh sản tốt. Khi u nang phát triển trên buồng trứng có thể ngăn chặn buồng trứng hình thành trứng hoặc trứng có thể có nhưng tinh trùng không thể xâm nhập vào thành của những trứng này. U nang có thể gây nguy cơ mang thai ngoài tử cung hoặc vòi trứng. Các bác sĩ chẩn đoán bệnh qua siêu âm, chụp cộng hưởng từ MRI, có thể thực hiện xét nghiệm máu để tầm soát ung thư, xem có thai hoặc có nhiễm trùng không. Các bác sĩ có thể thực hiện nội soi ở bụng cho phép thấy các u nang buồng trứng, đánh giá kích thước và quyết định cách điều trị hiệu quả.

 

Trường hợp u nang nhỏ, không đau nhiều thì theo dõi bệnh nhân từ 3-6 tháng/lần. Điều trị thuốc GnRH giúp đưa cơ thể vào thời kỳ mãn kinh tạm thời, do vậy gây triệu chứng tương tự như mãn kinh cho người bệnh. Người bệnh không nên có kế hoạch mang thai khi sử dụng thuốc GnRH. Khi người bệnh có cơn đau dữ dội, thuốc không có tác dụng, u nang lớn hơn 3cm, bác sĩ sẽ quyết dịnh nên phẫu thuật qua mổ mở hay mổ nội soi./.
Quỳnh Anh

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 204

Số lượt truy cập: 9290817

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang