
Trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc lá. Dự báo đến năm 2020, con số này sẽ lên tới trên 1,6 tỷ người. Thuốc lá là sản phẩm hợp pháp duy nhất làm chết một nửa số người sử dụng thường xuyên nó cùng hàng trăm nghìn người không hút thuốc lá khác. Trên thế giới, có khoảng 6 triệu người chết do hút thuốc lá hàng năm và 600.000 người chết do phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động. Theo Tổ chức Y tế thế giới, đến năm 2015, con số này sẽ tăng lên hơn 8 triệu người, trong đó 70% các ca tử vong là ở các nước đang phát triển.
Sử dụng thuốc lá là nguyên nhân của nhiều bệnh và thương tật, gây mất khả năng lao động và tử vong sớm và trở thành gánh nặng kinh tế của xã hội. So sánh với các nguy cơ khác, nguy cơ tử vong sớm do hút thuốc lá là rất cao. Một nửa những người thường xuyên hút thuốc bị chết sớm do sử dụng thuốc lá và một nửa trong số này chết ở độ tuổi trung niên, mất khoảng từ 15 năm đến 20 năm của cuộc sống. Tại các nước có thu nhập cao, tỷ lệ hút thuốc lá đang giảm đi, ngược lại sử dụng thuốc lá đang có xu hướng gia tăng tại các nước có thu nhập thấp và trung bình.
Trong khu vực ASEAN, có 121 triệu người trưởng thành hút thuốc lá, các quốc gia ASEAN đã phải chi nguồn ngân sách đáng kể cho y tế liên quan đến hút thuốc lá, gấp nhiều lần so với lợi nhuận kinh tế do thuốc lá đem lại.
Việt Nam là một trong 15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất trên thế giới, trung bình 2 nam giới từ 15 tuổi trở lên có một người hút thuốc. Theo điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành năm 2010, tỷ lệ hút thuốc ở nam giới là 47,4% (trung bình hai nam giới có một người hút thuốc), ở nữ giới là 1,4%. Hai phần ba số phụ nữ và trẻ em thường xuyên hít phải khói thuốc ở nhà. 33 triệu người không hút thuốc nhưng thường xuyên hít phải khói thuốc trong nhà. Hơn 5 triệu người không hút thuốc thường xuyên hít phải khói thuốc tại nơi làm việc. Ước tính chi phí y tế và các thiệt hại do mất năng xuất lao động do ốm đau và tử vong sớm lên tới trên 23 ngàn tỷ đồng mỗi năm.
Nhằm bảo vệ các thế hệ hiện nay và tương lai khỏi các hậu quả tàn phá về sức khỏe, xã hội, môi trường và kinh tế của việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc, Công ước khung về kiểm soát thuốc lá đã được đưa ra tại phiên họp toàn thể cuối cùng của vòng đàm phán thứ sáu của Cơ quan Đàm phán liên Chính phủ vào ngày 01 tháng 3 năm 2003. Tại Hội nghị này, đã thống nhất trình văn bản này tới Đại hội đồng Y tế thế giới lần thứ 56 vào tháng 5 năm 2003. Điều đó đã cho thấy các quốc gia thành viên nhận thức sự lan rộng của nạn dịch thuốc lá là một vấn đề toàn cầu với những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe công cộng. Do đó, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế và sự tham gia rộng rãi nhất của tất cả các quốc gia nhằm nỗ lực hiệu quả, phù hợp và toàn diện để đối phó với nạn dịch này.
Như vậy, việc phê chuẩn Công ước này đã phản ánh mối lo ngại của cộng đồng quốc tế về các hậu quả tàn phá trên qui mô toàn thế giới về sức khỏe, xã hội, kinh tế và môi trường do việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc gây ra và sự gia tăng trong tiêu thụ và sản xuất thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá khác trên toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển, cũng như trước gánh nặng cho các gia đình, người nghèo và cả hệ thống y tế quốc gia.
Đây là Công ước quốc tế mang tính toàn cầu đầu tiên của Tổ chức Y tế thế giới, bắt đầu được các quốc gia thành viên ký kết từ ngày 16/6/2003 tại Geneva, Thụy Sĩ. Công ước bao gồm 11 phần, 38 điều, qui định toàn diện các biện pháp giảm cung và giảm cầu thuốc lá, bảo vệ môi trường và hợp tác khoa học, kĩ thuật và truyền thông các thông tin giữa các quốc gia thành viên, xây dựng thể chế và nguồn tài chính bền vững cho kiểm soát thuốc lá...
Sau khi có đủ 40 quốc gia đầu tiên phê chuẩn, Công ước khung FCTC đã bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/2/2005. Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2015, đã có 180 thành viên tham gia Công ước trong tổng số 192 quốc gia thành viên của Tổ chức Y tế thế giới, chiếm 89% dân số toàn thế giới. Để thực hiện Công ước khung một cách hiệu quả, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra các chính sách gồm 6 nhóm biện pháp kiểm soát thuốc lá hiệu quả, bao quát những điều khoản chính của Công ước khung (gọi tắt là MPOWER), bao gồm: Monitor – Giám sát việc sử dụng thuốc lá và các chính sách ngăn chặn thuốc là; Protect – Bảo vệ người dân khỏi phơi nhiễm với khói thuốc lá; Offer – Cung cấp hỗ trợ cho người nghiện bỏ thuốc lá; Warn – Cảnh báo sự nguy hiểm của việc sử dụng thuốc lá; Enforce – Tăng cường các biện pháp ngăn chặn các hình thức quảng cáo, khuyến mại và tài trợ của các công ty thuốc lá; Raise – Tăng thuế thuốc lá.
Thông qua hệ thống báo cáo toàn cầu, đến nay, đã có 54 quốc gia thực hiện tốt hệ thống giám sát tỷ lệ sử dụng thuốc lá; 43 quốc gia có quy định và thực hiện tốt quy định về môi trường không khói thuốc; 37 quốc gia thực hiện tốt truyền thông; 32 quốc gia thực hiện tốt chính sách thuế; 24 quốc gia thực hiện nghiêm quy định cấm quảng cáo, khuyến mãi và tài trợ của các công ty thuốc lá và 21 quốc gia thực hiện tốt hỗ trợ cai thuốc lá.
Tại Việt Nam, Chủ tịch nước đã ký Quyết định phê chuẩn Công ước từ tháng 12/2004, có hiệu lực từ ngày 17/3/2005. Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1315 ngày 21/8/2009 phê duyệt kế hoạch thực hiện Công ước khung. Theo nghiên cứu của LevyD và CS năm 2005, nếu Việt Nam thực hiện tốt FCTC sẽ giảm được 30% tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới, giúp phòng tránh được 16.000 trường hợp tử vong sớm hàng năm trong tương lai.
Theo ông Gabit Ismailov – Chuyên gia kỹ thuật của Tổ chức Y tế thế giới tại Hội nghị Đánh giá 10 năm thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá khuyến cáo Việt Nam cần tăng cường thực thi Luật phòng chống tác hại của thuốc lá 2012, đặc biệt chú ý đến những nơi chưa thực hiện môi trường không khói thuốc, những nơi thuốc lá vẫn còn được bán dù bị cấm; hai là vấn đề tăng thuế thuốc lá đồng thời kết hợp giám sát thuốc lá với hệ thống giám sát các bệnh không lây nhiễm và hệ thống giám sát thông tin y tế.
Thành Long