
Phẫu thuật SMILE (Small Incision Lenticule Extraction) được cho là một kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay trong điều trị tật khúc xạ.
SMILE là phẫu thuật khúc xạ sử dụng laser femtosecond để tạo lõi mô trong các nhu mô giác mạc. Lõi mô này được tách và rút ra khỏi giác mạc qua một đường cắt, chiều dài từ 2-4mm. Phương pháp này giảm được các biến chứng tiềm ẩn, cải thiện đáng kể độ an toàn của phẫu thuật LASIK.
Từ tháng 2/2014 đến tháng 2/2015, BS.Trần Hải Yến- Bệnh viện Mắt TP Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị loạn thị bằng phẫu thuật SMILE. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả điều trị loạn thị của phẫu thuật SMILE trên bệnh nhân loạn cận.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng tham gia nghiên cứu gồm bệnh nhân cận thị kèm loạn cận, trên 18 tuổi, độ khúc xạ ổn định ít nhất một năm, giác mạc trong, nhu mô tồn dư tính được trên 250µm và không có bệnh lý gì tại nhãn cầu. Tiêu chuẩn loại trừ gồm bệnh lý toàn thân, mắt độc nhất, đã từng phẫu thuật tại nhãn cầu. Bệnh nhân đeo kính áp tròng phải ngưng đeo ít nhất 1 tuần với kính mềm và 2 tuần với kính cứng.
Nghiên cứu có 52 bệnh nhân tham gia với 103 mắt, được chia thành 02 nhóm: nhóm có độ loạn thị cao (> 2.00 Đi-ốp) và nhóm có độ loạn thị thấp hơn 2.00 Đi-ốp. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ loạn thị sau phẫu thuật 3 tháng của cả bệnh nhân loạn thị độ cao và thấp đều không vượt quá 1.00 Đi-ốp. Cụ thể có đến 80,4% bệnh nhân chỉ còn loạn thị trong khoảng < 0,50 Đi-ốp; giới hạn này nằm trong biên độ loạn thị sinh lý, không ảnh hưởng đến thị lực của bệnh nhân.
Tính an toàn và hiệu quả của phẫu thuật SMILE trong điều trị loạn thị thể hiện ở thị lực của bệnh nhân. Sau phẫu thuật, thị lực không chỉnh kính của bệnh nhân cao và tăng dần từ 1 ngày sau mổ đến 3 tháng, thị lực 20/20 sau 3 tháng chiếm tỉ lệ 79% và 95% có thị lực cao hơn 20/40. Thị lực chỉnh kính của bệnh nhân vẫn bảo toàn sau mổ và có 5% tăng thị lực lên 1 hàng. Trong phần thị lực chỉnh kính, ở nhóm có độ loạn thị cao thị lực tăng 1 hàng nhiều hơn so với độ loạn thị thấp, có thể giải thích vì trước mổ với độ loạn cao nên độ quang sai cao, làm thị lực không cao bằng lúc sau phẫu thuật. Độ cầu tương đương sau phẫu thuật 3 tháng trong khoảng +0.13D chiếm tỷ lệ cao, tuy cũng có một số trường hợp thặng chỉnh và thiểu chỉnh. Qua đó cũng phần nào thể hiện được tính hiệu quả và an toàn của phẫu thuật SMILE.
Sau phẫu thuật, tại các thời điểm tái khám độ cầu tương đương thay đổi không nhiều và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, sự khác biệt giữa hai nhóm loạn thị cao và thấp cũng không có ý nghĩa. Điều này cũng thể hiện ở thị lực không chỉnh kính, thị lực tăng ở tuần 1 sau mổ và sau đó gần như ổn định. Trong những nghiên cứu thực hiện theo dõi sau 6 tháng, 1 năm cũng ghi nhận kết quả tương tự. Do đó, phẫu thuật SMILE cho thấy tính ổn định qua thời gian bắt đầu từ 1 tuần sau phẫu thuật.
Nghiên cứu đã có kết luận là phẫu thuật SMILE cho thấy tính an toàn, hiệu quả và ổn định trong điều trị loạn thị cả độ cao và thấp. So với phẫu thuật LASIK thì độ lệch trục và độ trụ tồn dư sau phẫu thuật tương tự. Tuy có sự thiểu chỉnh ít và xoáy trục nhưng không ảnh hưởng nhiều đến thị lực của bệnh nhân sau phẫu thuật.
Minh Tâm