
Tháng 3/2015, Bệnh viện Trung ương Huế đã khai trương đưa vào sử dụng máy xạ trị điều trị bệnh ung thư hiện đại nhất Việt Nam.
Đây là loại máy có 4 tính năng vượt trội so với các máy xạ trị trước đây. Máy có nhiều mức năng lượng khác nhau để đáp ứng cho từng loại khối u, máy kèm theo hệ thống chụp cắt lớp điện toán (CT Scan) để kiểm soát hình ảnh thực của khối u. Máy có thể điều chỉnh vị trí giường người bệnh theo 6 hướng lên xuống, ra vào, trái phải, xoay, nghiêng và dốc, sự điều chỉnh này giúp vị trí người bệnh phù hợp để dòng tia xạ trị đến khối u gần nhất, hiệu quả nhất. Máy có phần mềm chuyên dụng kết nối toàn bộ kết quả chẩn đoán hình ảnh của người bệnh trước đây, tích hợp vào máy để xử lý giúp cho người thầy thuốc quyết định liệu trình điều trị như xạ trị điều biến liều xạ trị điều biến thể tích. Đối với những khối u nhỏ dưới 3mm nằm sâu trong não, lồng ngực, xương chậu…máy có thể phẫu thuật xạ trị định vị mà không gây tổn thương các tổ chức xương.
Chúng ta biết rằng, kỹ thuật xạ trị hình cung điều biến liều theo thể tích (VMAT) là sử dụng phương pháp chùm tia liên tục khi quay thân máy qua một hay nhiều cung. Trong khi quay như vậy, rất nhiều thông số kỹ thuật được điều chỉnh và thay đổi. Chẳng hạn, tạo hình dạng chùm tia; Suất liều máy “dose rate” thay đổi liên tục; Tốc độ quay của thân máy và góc nghiêng cũng thay đổi…Kỹ thuật này được bắt nguồn từ ý tưởng xạ trị theo hình cung, biến liều lượng – IMAT (Intensity Modulated Arc Therapy) của Cedric Yu, năm 1995.
Ưu điểm của VMAT là có thể tạo ra sự phân bổ liều theo hình dạng khối u với độ chính xác cao, tương tự như kỹ thuật IMRT, phát chuỗi chùm tia tĩnh, động, xạ trị cắt lớp tĩnh hoặc quay (static or helical tomotherapy). Vì vậy nhiều người cho rằng VMAT là một kỹ thuật hết sức có giá trị và vượt trội.
Đối với kỹ thuật xạ trị cắt lớp – Tomotherapy, người ta dựa trên những hình ảnh trực tiếp hàng ngày của chụp cắt lớp điện toán (CT) để lấy thông tin giải phẫu của bệnh nhân thay vì sử dụng những thông tin có từ tuần trước, tháng trước…Phân bố liều bức xạ quanh thể tích bia với độ chính xác cao từ mọi góc độ và khác nhau cho mỗi bệnh nhân. Giảm thiểu liều có hại cho các mô lành bao quanh. Có thể chỉnh, sửa kế hoạch xạ trị tại bất kỳ vị trí nào khi cần thiết.
Đặc tính kỹ thuật của Tomotherapy: Tomotherapy cho phép quan sát (các) khối u theo không gian 3-D. Hầu hết những thiết bị xạ trị khác chỉ cho phép quan sát sự phân bổ liều lượng tại khối u theo 2D. Điều này có nghĩa là với Tomotherapy, bệnh nhân ung thư sẽ được phân bố liều lượng một cách chính xác hơn. Tomotherapy là kỹ thuật xạ trị ít can thiệp hơn. Một số kỹ thuật xạ trị đôi khi cần phải phẫu thuật can thiệp như cài cắm những vật bằng kim loại đánh dấu trong bệnh nhân để xác định vị trí, tọa độ của khối u. Với Tomotherapy thì không cần phải làm điều đó. Thời gian xạ trị ngắn hơn với cùng loại ung thư. Thời gian điều trị với Tomotherapy chỉ mất dưới 10 phút, gồm cả việc cố định tư thế bệnh nhân, ghi nhận và chỉnh sửa hình ảnh.
Ung thư nhiều ổ có thể xạ trị một lần đồng thời với Tomotherapy. Những kỹ thuật khác đòi hỏi phải điều trị riêng biệt cho từng vị trí của khối u. Với Tomotherapy, điều trị được những ung thư, những khối u có kích thước lớn nhất, khối u đa ổ…Liều lượng ổn định, Tomotherapy phát chùm tia với liều lượng ổn định nhất. Điều đó có nghĩa rằng sẽ tránh được sai số và giảm tác dụng phụ về sau cho bệnh nhân.
Tomotherapy có thể điều trị những khối u các kích thước khác nhau. Những thiết bị khác chỉ có thể điều trị với những khối u có kích thước nhất định. Ngoài giới hạn này tế bào ung thư sẽ có nguy cơ tái phát hoặc sinh tác dụng phụ hoặc kém hiệu quả… Tomotherapy đã kết hợp với hệ thống CT scanner ngay trên cùng một khung máy.
Đối với người bệnh điều trị xạ trị ung thư, chán ăn là vấn đề rất hay gặp. Người bệnh cảm thấy no căng, đầy bụng, biếng ăn, không có cảm giác đói, người bệnh có thể khô miệng, đau và nhiễm khuẩn miệng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón,,,
Người bệnh ung thư và người nhà cần có biện pháp cải thiện tình trạng chán ăn, ăn chế độ ăn giàu năng lượng, giàu đạm, nhiều bữa nhỏ trong ngày thay vì 3 bữa chính. Cách ăn này giúp người bệnh có thể ăn nhiều hơn nhưng không gây đầy bụng. Bổ sung thêm năng lượng và đạm vào thực phẩm (bơ, sữa bột, mật ong, đường đen…). Bổ sung nước uống (những thức uống đặc biệt có chứa dưỡng chất), canh súp, sữa, nước ép (trái cây, rau, thịt…) thức ăn nghiền, trộn, xay nhuyễn…
Chuẩn bị và dự trữ thực phẩm hợp khẩu vị nhằm tiện sử dụng mọi lúc, mọi nơi một cách dễ dàng mỗi khi đói (phô mai, bánh quy giòn, nho khô..). Buổi sáng phải là bữa ăn chính, chiếm 1/3 tổng năng lượng và lượng đạm trong cả ngày. Ăn những thực phẩm hương vị thơm ngon, hấp dẫn. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với thực phẩm nặng mùi, nên dùng máy hút mùi, thức ăn để nguội còn âm ấm hẵng dùng (vì thức ăn đang nóng sẽ có mùi rất mạnh), mở nắp xoong nồi thức ăn cho giảm bớt mùi trước khi mang vào phòng cho người bệnh. Không khí trong phòng khi ăn cần thoáng mát, dễ chịu. Sáng tạo đổi món, đa dạng hóa thức ăn và món tráng miệng. Trong lúc ăn phải thư giãn, vui vẻ, bữa ăn cần được trình bày hấp dẫn.
Trần Hưng