Từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Đình Khoa cùng cộng sự Khoa Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Khảo sát các bệnh lý phối hợp và thực trạng sử dụng thuốc ở bệnh nhân gút”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nam hay nữ từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn ACR-EULAR 2015 của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống thấp khớp Châu Âu, vào điều trị tại Khoa Nội Cơ Xương Khớp hoặc phòng khám Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2016 đến hết tháng 4/2017 và đồng ý tham gia nghiên cứu. Loại khỏi nghiên cứu những bệnh nhân bị gút thứ phát.
Tác giả nghiên cứu báo cáo có 80 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tuổi từ 31-87; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 58,9; đa số ở nhóm > 60 tuổi với tỷ lệ 51,2%. Tuổi là một yếu tố rất quan trọng trong chẩn đoán gút. Theo y văn thì bệnh gút thường khởi phát ở tuổi trung niên, đỉnh khởi phát là 50 tuổi. Trong nghiên cứu tuổi khởi phát trung bình là 50.5 tuổi, tuổi khởi phát lớn nhất là 80 tuổi và nhỏ nhất là 25 tuổi. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm đa số 93,8%, chỉ có 5 bệnh nhân là nữ giới, người thấp nhất là 69 tuổi và cao nhất là 83 tuổi. Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với y văn. Theo nhận xét hầu hết các tác giả đa số bệnh nhân gút là nam giới, nữ giới ít gặp hơn và thường sau mãn kinh.

Theo Bs Khoa, có mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ acid uric máu và nguy cơ bị bệnh gút. Mặc dù hầu hết bệnh nhân có tăng acid uric máu, trong nghiên cứu này vẫn có khoảng 9,8% bệnh nhân bị gút không tăng acid uric máu. Những bệnh nhân này có thể do đang được sử dụng thuốc hạ acid máu, tuy nhiên thực tế cũng có những bệnh nhân gút có nồng độ acid máu bình thường, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của bệnh. Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy thực trạng kiểm soát bệnh gút rất hạn chế, đa số bệnh nhân chưa được điều trị thuốc hạ acid uric máu, hoặc việc điều trị chưa đạt mục tiêu.
Về đặc điểm sử dụng thuốc điều trị bệnh gút, có 18,8% bệnh nhân được điều trị thuốc hạ acid uric máu. Điều này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân được điều trị hạ acid uric ở nước ta rất thấp. Thực tế ngay cả ở các nước phát triển, chẳng hạn như ở Anh quốc, mặc dù tỷ lệ bệnh nhân gút được điều trị có cao hơn, song nhìn chung vẫn còn thấp và còn nhiều bệnh nhân vẫn chưa được điều trị. Đây cũng là một trong những tồn tại và thách thức lớn nhất trong quản lý bệnh gút. Trên thực tế lâm sàng, Bs Nguyễn Đình Khoa ghi nhận thực trạng là hầu hết bệnh nhân không sử dụng thuốc lâu dài, thường chỉ dùng thuốc khi có triệu chứng và hậu quả là bệnh không được kiểm soát, tiến triển ngày càng nặng, đa phần tiến triển đến gút mạn có tophi với nhiều biến chứng. Để giải quyết vấn đề này rất cần đẩy mạnh các chương trình giáo dục truyền thông cho cộng đồng, đồng thời nâng cao kỹ năng tư vấn của các thầy thuốc với người bệnh.
Về mặt điều trị đợt cấp, nghiên cứu cho thấy không có thiên hướng rõ rệt nào; hầu như tất cả các nhóm thuốc đều ít nhiều được sử dụng, trong đó có tỷ lệ đáng kể sử dụng các chế phẩm đông nam dược, đồng thời số bệnh nhân không biết rõ về điều trị trong nghiên cứu rất cao lên tới 36,3%. Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị colchicine trong nghiên cứu là 20%, nhìn chung là thấp bởi vì colchicine trước đây được coi là một thuốc kinh điển được khuyến cáo là một trong những thuốc đầu tay trong điều trị đợt cấp của gút. Tuy nhiên, do những năm qua với sự ra đời của những thuốc kháng viêm mới, cùng với những lo ngại về nguy cơ độc tính, việc sử dụng colchicine trong bệnh gút trên thế giới có xu hướng giảm đi. Tác giả cũng ghi nhận một đặc điểm rất đáng lưu ý là tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc nam và thuốc bắc trong nghiên cứu khá cao khoảng 38,8%, trong đó điều đáng nói là hầu hết bệnh nhân sử dụng nhóm thuốc này là do bệnh nhân tự ý tìm mua theo kinh nghiệm truyền miệng cho nhau. Điều này cho thấy ý thức quan tâm tới sức khỏe của bệnh nhân còn hạn chế và mức hiểu biết thấp của bệnh nhân về bệnh lý gút. Trong khi gút là bệnh có thể kiểm soát tốt thì điều đáng tiếc là chỉ một số ít bệnh nhân bị gút được tư vấn hiệu quả về lối sống và điều trị giảm acid uric, còn đa phần các bệnh nhân thường có nhiều cơn gút cấp, tiến triển tới biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác. Do đó cần phải chú ý hơn trong việc giáo dục hướng dẫn cho bệnh nhân những hiểu biết đúng đắn nhất về bệnh lý này, giúp quá trình điều trị đạt hiệu quả nhất.
Gút là bệnh viêm khớp do rối loạn chuyển hóa, có liên quan tới tình trạng tăng acid uric máu dẫn đến sự lắng đọng các tinh thể monosodium urate ở khớp và các mô khác. Bệnh gút ngày càng trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu với ước tính tỷ lệ lưu hành khoảng 1-2% dân số người lớn ở các nước phát triển và là vấn đề có tính sức khỏe cộng đồng, với gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng.
Ngoài việc gây những tổn thương xương khớp, tình trạng tăng acid uric máu và lắng đọng tinh thể urate ở các còn mô gây những tổn thương có tính chất toàn thân, như làm gia tăng bệnh lý tim mạch, rối loạn chuyển hóa, bệnh lý thận mạn, suy thận, … Ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy tăng acid uric máu và bệnh gút là một phần của rối loạn chuyển hóa, với thực tế là nhiều bệnh nhân gút đồng thời cũng có những bệnh lý phối hợp như bệnh lý mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu. Hơn nữa, tình trạng tăng acid uric máu và bệnh gout được coi là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với một số bệnh lý như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh thận mạn và ngược lại việc sử dụng một số thuốc như aspirin liều thấp, lợi tiểu, ức chế beta giao cảm lại được cho là có thể góp phần làm tăng acid uric máu và tăng nguy cơ bệnh gút. Điều trị bệnh gút hiện nay đòi hỏi sự kiểm soát bệnh một cách toàn diện, trong đó có việc khống chế một cách hiệu quả và an toàn các cơn cấp, sử dụng dài hạn các thuốc hạ acid uric máu nhằm duy trì acid uric máu mục tiêu dưới 6 mg/dL, đồng thời kiểm soát tốt các rối loạn liên quan. Mặc dù bệnh ngày càng phổ biến và có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, song trên thực tế nhiều bệnh nhân vẫn chưa được điều trị và việc quản lý và điều trị bệnh gút còn rất nhiều hạn chế và bất hợp lý, kể cả ở những nước phát triển.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, sự già hóa về mặt dân số, làm cho tỷ lệ bệnh gút thường gặp hơn, trở thành gánh nặng rất lớn cho nền y tế. Hiện nay, theo một số thống kê, gút là một trong những bệnh lý hay gặp nhất ở những bệnh nhân nội trú điều trị tại chuyên khoa cơ xương khớp. Trên thực tế lâm sàng, chúng tôi nhận thấy đa phần bệnh nhân gút đến khám và điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy chưa được điều trị, hoặc điều trị chưa đầy đủ, chưa hợp lý dẫn đến bệnh ngày càng tiến triển nặng với nhiều biến chứng như tổn thương xương khớp nặng, giảm chức năng vận động, tàn phế, loét nhiễm trùng tophi, suy thận làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Mai Trang