[Đăng ngày: 24/08/2015]
Helicobacter pylori (HP) cư trú ở dạ dày ở hơn 50% dân số thế giới. HP là nguyên nhân gây ra 90% bệnh loét dạ dày, tá tràng; 60 – 70% ung thư biểu mô tuyến và lymphoma dạ dày. Nguy cơ diễn tiến thành các bệnh lý này đều cao hơn so với người không nhiễm HP từ 3 lần trở lên.
HP tồn tại hàng vạn năm trước, tuy nhiên phải đến năm 1982; Warren và Marshell mới phát hiện và nuôi cấy thành công. Điều trị tiệt trừ HP giúp giải quyết triệt để nhiều trường hợp loét dạ dày tá tràng và có khả năng phòng ngừa nguy cơ bị ung thư dạ dày.
Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HP có hai nhóm: xét nghiệm xâm lấn và xét nghiệm không xâm lấn. Đối với nhóm xét nghiệm xâm lấn dựa trên nội soi dạ dày thực quản có 3 phương thức là: xét nghiệm urease nhanh dựa trên mẫu mô sinh thiết; giải phẫu bệnh và nuôi cấy. Xét nghiệm urease nhanh dựa trên mẫu mô sinh thiết có ưu điểm nhanh, đơn giản, rẻ tiền. Nguyên tắc của xét nghiệm urease dựa trên mẫu mô sinh thiết là mẫu mô sinh thiết sau khi được lấy qua nội soi dạ dày tá tràng được đặt trong kít thử màu vàng có chứa ure và chất chỉ thị pH. Hoạt tính của men urease do vi khuẩn HP sản xuất sẽ thủy phân ure trong kít thử tạo ra NH3 làm thay đổi pH trong kít thử và làm kít thử chuyển từ màu vàng sang màu hồng cánh sen. Còn xét nghiệm giải phẫu bệnh sẽ giúp cung cấp thêm thông tin về tổn thương giải phẫu bệnh. Phương pháp giải phẫu bệnh phụ thuộc phương pháp nhuộm và kinh nghiệm người đọc.
Đối với nhóm xét nghiệm không xâm lấn có 3 phương thức là: huyết thanh chẩn đoán, xét nghiệm hơi thở và xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân. Đối với xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán có ưu điểm đơn giản dễ làm nhưng không thể sử dụng để theo dõi ngay sau điều trị tiệt trừ HP. Phương pháp xét nghiệm hơi thở 13C hoặc 14C có ưu điểm đơn giản, có thể dùng để đánh giá hiệu quả điều trị tiệt trừ HP; phương pháp có thể dùng ở trẻ em. Nhược điểm là 14C mang liều thấp phóng xạ. Nguyên tắc của thử nghiệm hơi thở là người bệnh được uống viên thuốc hoặc dung dịch có chứa phân tử ure mang carbon đánh dấu 13C hoặc 14C. Nếu bệnh nhân bị nhiễm HP, men urease do vi khuẩn sản xuất ở dạ dày sẽ thủy phân phân tử ure chứa carbon đánh dấu và giải phóng 13CO2 hoặc 14CO2; các chất này sẽ được hấp thu vào máu và được thải ra ngoài qua đường hô hấp. Bệnh nhân được yêu cầu thổi hơi vào một bong bóng và khí trong hơi thở của bệnh nhân sẽ được đưa qua một máy đếm nhấp nháy phóng xạ để định lượng 13CO2 / 14CO2 .
Phương pháp xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân cũng có thể dùng ở trẻ em, phương pháp thuận tiện và có thể dùng để theo dõi sau điều trị tiệt trừ HP. Nhược điểm của phương pháp là ít chính xác bằng xét nghiệm hơi thở khi đánh giá hiệu quả sau điều trị tiệt HP.
Cần lưu ý khi thực hiện các xét nghiệm là người bệnh phải ngưng sử dụng kháng sinh và Bismuth ít nhất 4 tuần và các thuốc nhóm ức chế bơm proton ít nhất hai tuần trước khi tiến hành xét nghiệm kiểm tra HP.
Chúng ta cần biết rằng, HP là một loại xoắn khuẩn gram âm. Vi ái khí; kích thước ngắn từ 0,2 – 0,5 µm, có 4 – 6 chiên mao. Vi khuẩn sống trong lớp chất nhầy của dạ dày. HP có hai dạng tồn tại, dạng xoắn khuẩn là dạng hoạt động có khả năng gây bệnh và tiết ra men urease; dạng cầu khuẩn là dạng vi khuẩn tồn tại khi ở trong điều kiện không thuận lợi và không tiết men urease. Nhiễm HP gây ra tình trạng viêm dạ dày mạn tính hoạt động kéo dài suốt đời hoặc cho đến khi vi khuẩn được điều trị diệt trừ.
HP chủ yếu xảy ra ở trẻ em, có thể bị lây nhiễm trước khi lên 10 tuổi. Yếu tố nguy cơ nhiễm HP quan trọng là môi trường vệ sinh kém, môi trường sống đông đúc. HP có thể lây qua nguồn nước bị nhiễm khuẩn. Trong gia đình có người bị nhiễm HP các thành viên còn lại dễ bị nhiễm HP. Đường lây truyền là đường phân – miệng; đường miệng – miệng và đường dạ dày – miệng. Hiện nay có khoảng trên 300 chủng loại HP được chia thành 3 nhóm: không độc; có đặc tính độc vừa (sinh loét, viêm) và nhóm có đặc tính độc mạnh gây ung thư.
Hầu hết bệnh nhân nhiễm HP đều không có biểu hiện lâm sàng; chỉ khoảng 15% tiến triển thành loét dạ dày tá tràng, ung thư biểu mô tuyến và lymphoma dạ dày. Yếu tố quyết định diễn tiến của tình trạng nhiễm HP thành các bệnh lý trên lâm sàng tùy thuộc vào chủng HP, đặc điểm di truyền của người bệnh và các yếu tố môi trường. Yếu tố môi trường là các yếu tố hút thuốc lá, chế độ ăn mặn, ăn nhiều thức ăn bảo quản ướp muối, đóng hộp. Với chế độ ăn nhiều vitamin C và các chất chống oxy hóa có tác dụng bảo vệ giúp giảm nguy cơ nhiễm HP.
Trong điều trị tiệt trừ HP, điều kiện để thành công là ức chế toan thật tốt, dùng thuốc ức chế bơm proton liều chuẩn, cần phối hợp từ hai kháng sinh trở lên; kháng sinh có tính chất hợp đồng và độ nhạy cảm với HP cao; khả năng kháng thuốc ít; ít gây tổn thương gan hoặc thận. Kháng sinh chịu đựng được ở môi trường axít dạ dày.
Những người có loét dạ dày tá tràng, U lymphoma, viêm teo niêm mạc dạ dày; sau phẫu thuật ung thư dạ dày; hoặc những người có quan hệ huyết thống cấp I với bệnh nhân ung thư dạ dày như cha, mẹ, con, anh chị em ruột cần phải được điều trị tiệt trừ HP.
    Thanh Tùng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 42

Số lượt truy cập: 9353501

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang