[Đăng ngày: 29/01/2015]
Năm 1993, Viện Y học Mỹ (US Institute of Medicines) đã đưa ra khái niệm tiếp cận trong lĩnh vực y tế là “việc sử dụng kịp thời các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cá nhân để có được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể”.
Trong nghiên cứu “khái niệm tiếp cận dịch vụ y tế và cách đo lường tổng quan từ các nghiên cứu quốc tế” của Nguyễn Thị Minh Châu đã đưa ra kết luận đó là xu hướng chung trên thế giới là các quốc gia tùy theo hoàn cảnh kinh tế xã hội và đặc thù riêng của mình đều thúc đẩy tiếp cận hoặc tìm cách tháo gỡ các rào cản tiếp cận dịch vụ y tế. Việc xem xét, áp dụng có điều chỉnh hoặc bổ sung, phát triển các mô hình/khung phân tích mới, phù hợp để đo lường, đánh giá việc tiếp cận dịch vụ y tế cho các nghiên cứu về chính sách y tế và dịch vụ y tế là cần thiết, nhằm làm tăng khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho người dân nói chung và các nhóm dân cư đặc thù nói riêng.
Mô hình sử dụng dịch vụ y tế của Andersen đăng trên Joural of Health and Social Behavior tháng 3/1995 được đánh giá là rõ nét và tương đối toàn diện.
Mô hình sử dụng dịch vụ y tế, còn được gọi là mô hình hành vi sử dụng dịch vụ y tế, bước đầu được Andersen phát triển vào cuối những năm 1960 với mục đích tìm hiểu lý do sử dụng dịch vụ y tế, đưa ra cách đo lường sự tiếp cận đến các dịch vụ y tế nhằm hỗ trợ xây dựng chính sách để cải thiện sự tiếp cận công bằng (Ronald M. Andersen, 1995). Theo đó, tiếp cận được đo lường như sau: tiếp cận tiềm năng (potential access) được đo một cách đơn giản là sự có mặt của các yếu tố thuận lợi từ góc độ cá nhân và cộng đồng. Đó là sự sẵn có của cơ sở y tế và nhân lực y tế nơi người dân sống và làm việc. Không những thế, người dân phải có tiềm lực kinh tế và biết cách làm thế nào để đến được với các dịch vụ này và sử dụng được chúng. Thu nhập, bảo hiểm y tế, nguồn chăm sóc sức khỏe thường xuyên, thời gian đi lại và chờ đợi là những đo lường quan trọng. Các yếu tố thuận lợi là điều kiện cần để việc sử dụng dịch vụ y tế có thể xảy ra. Tiếp cận thực sự (realized access) là sự sử dụng thực tế các dịch vụ và là hàm số của các yếu tố liên quan đến khuynh hướng sử dụng dịch vụ, các yếu tố tạo thuận lợi hoặc cản trở sự sử dụng dịch vụ và nhu cầu sử dụng dịch vụ. Các yếu tố liên quan đến khuynh hướng sử dụng sử dụng dịch vụ gồm: các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, giới tính có thể dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế khác nhau, địa vị xã hội với cách đo lường truyền thống thông qua trình độ học vấn, nghề nghiệp; niềm tin sức khỏe như thái độ, chuẩn mực giá trị và sự hiểu biết về sức khỏe và các dịch vụ y tế có thể ảnh hưởng tới nhận thức về nhu cầu và việc sử dụng các dịch vụ y tế. Các yếu tố tạo thuận lợi, ví dụ như thu nhập, bảo hiểm y tế,…đồng thời lại có thể là yếu tố cản trở sự sử dụng dịch vụ. Còn nhu cầu sử dụng dịch vụ có thể là nhu cầu xuất phát từ nhận thức, hiểu biết về sức khỏe hoặc là nhu cầu xuất phát từ thực trạng sức khỏe. Tiếp cận công bằng (equitable access) và tiếp cận không công bằng (inequitable access). Tiếp cận là công bằng khi các yếu tố về nhân khẩu học và nhu cầu dịch vụ giải thích cho hầu hết những thay đổi trong sử dụng dịch vụ y tế còn tiếp cận  không công bằng xảy ra khi các yếu tố về vị trí xã hội (ví dụ như sắc tộc, màu da), niềm tin sức khỏe và các yếu tố tạo thuận lợi (như thu nhập) quyết định ai là người được nhận dịch vụ y tế.
Mô hình sử dụng dịch vụ này sau đó tiếp tục được Andersen và các cộng sự phát triển vào những năm 1970 với việc đưa thêm vào mô hình các yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe bao gồm tầm quan trọng của các chính sách y tế quốc gia, các nguồn lực và tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ như là những yếu tố quyết định tới việc sử dụng dịch vụ của người dân. Một điểm mới nữa là mô hình còn có sự hiện hữu kết quả của việc sử dụng dịch vụ - đó là sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ - được đánh giá thông qua cảm nhận của người dùng về tính thuận tiện, sự sẵn có dịch vụ, khả năng tài chính, chất lượng và thái độ của người cung ứng dịch vụ.
Tiếp đó, đến những năm 1980, mô hình lại tiếp tục được cải tiến trên cơ sở nhận thức mở rộng rằng các dịch vụ y tế phải giúp duy trì hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người dân. Môi trường bên ngoài (bao gồm các thành tố vật chất, chính trị và kinh tế) cũng được xem là đầu vào quan trọng giúp giải thích việc sử dụng dịch vụ y tế. Những thói quen có liên quan đến sức khỏe của cá nhân như chế độ ăn uống, luyện tập hay tự chăm sóc sức khỏe được xem là có tương tác với việc sử dụng các dịch vụ y tế chính thống để tác động đến kết quả đầu ra về sức khỏe của người dân. Việc bao hàm trong mô hình sử dụng dịch vụ các kết quả đầu ra về tình trạng sức khỏe cho phép đo lường mở rộng các chiều cạnh của tiếp cận có tầm quan trọng trong chính sách y tế và cải cách y tế. Theo đó, tiếp cận là hiệu quả (effective access) khi việc sử dụng dịch vụ cho thấy sự cải thiện về tình trạng sức khỏe hoặc sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Tiếp cận có hiệu suất (efficient access) là khi mức độ cải thiện tình trạng sức khỏe hoặc sự hài lòng tăng lên tương ứng với mức độ sử dụng dịch vụ y tế.
Mô hình Andersen từng bị phê phán là không quan tâm thỏa đáng đến sự tương tác về mặt văn hóa và xã hội song tác giả lập luận rằng trong các yếu tố mang tính khuynh hướng sử dụng dịch vụ đã bao gồm địa vị xã hội. Để phản bác lại một số ý kiến phê phán khác cho rằng mô hình quá chú trọng đến nhu cầu hơn là những yếu tố về niềm tin sức khỏe hay địa vị xã hội, Andersen cho rằng bản thân nhu cầu đã phản ánh cấu trúc xã hội và chính vì thế nhu cầu được phân thành nhu cầu xuất phát từ nhận thức (một phần là do niềm tin sức khỏe quyết định, ví dụ như liệu người ta có nghĩ là ốm đến mức phải đi khám bệnh hay không) và nhu cầu đã được kiểm chứng (thường có thể đo lường và đánh giá khách quan hơn từ thực trạng sức khỏe hay triệu chứng lâm sàng do người có chuyên môn như bác sĩ nhận định).
Năm 1978, tuyên bố Alta Ata đã nhấn mạnh tiếp cận các dịch vụ y tế là quyền cơ bản của con người, tuy nhiên sự tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng miền, các cộng đồng và nhóm dân cư luôn có sự khác nhau. Hy vọng càng ngày chúng ta sẽ được bổ sung, điều chỉnh cách đo lường tốt nhất đối với việc người dân tiếp cận được các dịch vụ y tế qua đó ngày càng nâng cao được chất lượng sống cho mỗi người dân./.   
Thùy Dung
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 150

Số lượt truy cập: 9359527

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang