Nhiễm khuẩn tiết niệu là bệnh khá phổ biến trên thế giới. Các nhóm bệnh nhân nguy cơ cao thuận lợi cho nhiễm khuẩn tiết niệu như bệnh nhân dị tật đường tiết niệu, nằm lâu, có thai, bệnh nhân đái tháo đường, các bệnh lý nghẽn tắc đường tiết niệu và sỏi tiết niệu.
Nhiễm khuẩn tiết niệu là khi vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang hay thận và phát triển gây nhiễm khuẩn cho nước tiểu, cuối cùng ảnh hưởng nặng đến từng bộ phận của hệ tiết niệu. Các vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết niệu là E.Coli, Klebsiella, Proteus, Enterobacter spp, P.aeruginosa, S.saprophyticus... trong các loại này, vi khuẩn Gram âm vẫn chiếm đa số.
Vi khuẩn kháng với kháng sinh là vấn đề nan giải đối với thầy thuốc lâm sàng, vi sinh hiện nay. Theo các dược sĩ, Carbapenem là nhóm kháng sinh mạnh nhất thuộc nhóm lựa chọn cuối cùng điều trị các bệnh nhiễm trùng vi sinh vật kháng thuốc cao như Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii, Enterobacteriaceae.
Báo cáo của ThS. Phạm Thu Hương- Khoa vi sinh vật- Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 cho thấy vi khuẩn gram âm đa kháng gây nhiễm khuẩn tiết niệu tại Bệnh viện 108 năm 2015 là: Ecoli đa kháng chiếm 46,1%; Klebsiella spp chiếm 19,7%; Pseudomonas spp chiếm 18,4%; Enterobacter spp là 6,6%; Morganella morganii là 3,9%; Acinetobacter spp và Proteus chiếm 2,9%.
ThS. Hương cho biết, các vi khuẩn gram âm đa kháng gây nhiễm khuẩn tiết niệu chủ yếu đã kháng hoàn toàn các kháng sinh như Ampicillin, kháng với Cephalosporin các thế hệ (91-100%); kháng Gentamycin (64-80%); kháng Ciprofloxacin, Norfloxacin (92-100%); vi khuẩn E.Coli và Klebsiella spp đề kháng với Trimethoprim/Sulfametheoxazol 66-77%. Hầu hết các vi khuẩn này còn nhạy cảm với Colistin. E.Coli đa kháng còn nhạy cảm với kháng sinh mới Imipenem, meropenem (94,3%); Ertapenem (97%); Amikacin (94%); Fosfomycin (100%).
Klebsiella spp đa kháng cao với Ciprofloxacin và norfloxacin (100%); kháng với kháng sinh Cephalosporin, Piperacillin/ Tazobactam 93%; kháng cao với Amikanam (60%) và Gentamycin (80%); đề kháng nhóm Carbapenem 60%. Vi khuẩn Pseudomonas spp đa kháng gây nhiễm khuẩn tiết niệu kháng với kháng sinh nhóm Furoquinonol, cụ thể kháng Ciprofoxacin 92,9%; kháng Levofloxacin 100%; đối với nhóm Carbapenem như Imipenem 50%; kháng Meropenem 42,9%; kháng Ticarcillin/ Acod clavulamic 100%. Vi khuẩn Pseudomonas spp còn nhạy cảm tốt với Colistin.
Theo PGS. Nguyễn Hoàng Anh- Trường Đại học Dược Hà Nội, Colostin đang là vũ khí cuối cùng trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn gram âm đa kháng. Coliston là kháng sinh thuộc nhóm polymixin (polymyxin E), được phát hiện vào những năm 1940 nhưng đến năm 1950 mới được đưa vào sử dụng. Giữa những năm 1970 và 1990, colistin thường không được sử dụng vì tác dụng độc thận, độc thần kinh, số lượng báo cáo nghiên cứu phân tích dược lý của colitin rất ít.
Colistin có hai dạng sử dụng là colistin sulfate dùng tại chỗ và colistimethate natri dùng toàn thân (đường tĩnh mạch). Hai dạng sử dụng này không thể thay thế lẫn nhau. Colistimethate natri an toàn trong sử dụng hơn, tần suất gây độc thấp hơn. Sự thủy phân colistimethate natri thành colistin là một bước quan trọng trong hoạt tính kháng khuẩn của thuốc. Colistin bị thải trừ chủ yếu tại thận; được tái hấp thu tích cực tại ống thận. Colistin mang nhiều điện tích dương, giúp phá vỡ lớp màng ngoài của vi khuẩn; sự thay đổi tính thấm của màng tế bào vi khuẩn dẫn đến sự ly giải tế bào, sự chết của vi khuẩn. Colistin cũng có khả năng gắn kết và trung hòa phân tử lipopolysaccharide của vi khuẩn, là hoạt tính kháng nội độc tố của colistin. Colistin có phổ kháng khuẩn hẹp hầu như chỉ nhạy với vi khuẩn gram âm thường gặp; đặc biệt là những vi khuẩn gram âm đa kháng.
Các chuyên gia lưu ý, sự gia tăng kháng kháng sinh rất đáng lo ngại; vì colistin là lựa chọn điều trị cuối cùng, nếu bị kháng thuốc sẽ không còn lựa chọn điều trị nào khác. Vi khuẩn Acinetobacter baumannii là một trong những vi khuẩn gram âm khó điều trị và kiểm soát nhất; những báo cáo gần đây cho thấy chủng này đang kháng thuốc tỷ lệ ngày càng gia tăng ngay cả đối với Colistin.
Hoa Đăng