Thận đảm nhận chức năng chính là nội tiết và ngoại tiết.
Chức năng ngoại tiết bao gồm bài tiết và bài xuất nước tiểu, điều chỉnh cân bằng nước, điện giải; toan kiềm, bài tiết các chất cặn bã của chuyển hóa và loại trừ độc tố. Đối với chức năng nội tiết thể hiện quá trình hình thành một số hormone để tham gia quá trình điều hòa huyết áp, tạo hồng cầu, tham gia vào chuyển hóa canxi, phốt pho trong cơ thể.
Về giải phẫu, hai thận 2 bên có hình hạt đậu, chiếm khoảng 0,4% trọng lượng cơ thể, nằm sau phúc mạc, hai bên cột sống. Nhu mô thận gồm 2 vùng, vỏ thận là nơi tập trung chủ yếu cầu thận và tủy thận tập trung các ống thận. Đon vị giải phẫu chức năng của thận là nephron. Mỗi thận có khoảng 1 triệu nephron có khả năng tạo nước tiểu độc lập với nhau. Nephon có hai phần là vùng vỏ và vùng tủy. Nephon có chức năng loại bỏ những chất độc hại ra khỏi cơ thể như u rê, creatinin, các sản phẩm chuyển hóa gốc axit.
Chức năng tạo nước tiểu của thận được thực hiện thông qua 3 quá trình (1) quá trình lọc ở cầu thận, (2) quá trình tái hấp thu các chất từ ống thận vào máu, (3) quá trình bài tiết một số chất từ máu vào ống thận. Việc tạo thành nước tiểu ở thận là quá trình lọc ở cầu thận, một phần huyết tương được lọc qua mao mạch và bao Bowman và trở thành dịch lọc cầu thận. Sau đó là quá trình tái hấp thu và bài tiết ở ống thận; khi dịch lọc đi xuống ống thận, thể tích và thành phần dịch lọc sẽ bị thay đổi. Nước và một số chất hòa tan được đưa trở lại máu nhờ quá trình tái hấp thu; ngược lại, một số chất hòa tan được bài tiết vào dịch ống thận để tạo thành nước tiểu.
Nghiệm pháp thăm dò chức năng thận có 2 phương pháp đo gián tiếp và đo trực tiếp. Đo gián tiếp là tính lượng đào thải của một chất trong nước tiểu 24 giờ; lượng đào thải này phụ thuộc vào chế độ ăn, chuyển hóa, cường độ hoạt động của cơ bắp. Thăm dò gián tiếp đo nồng độ các chất này trong máu chính xác hơn. Đối với đo tỷ trọng nước tiểu, nếu tỷ trọng cao là giảm chức năng cầu thận trong khi chức năng cô đặc của ống thận vẫn bình thường gặp trong viêm cầu thận cấp hay mạn tính. Nếu tỷ trọng nước tiểu thấp là suy giảm khả năng cô đặc nước tiểu trong xơ thận, viêm cầu thận mạn.
Về nghiệm pháp đo trực tiếp, đo tốc độ lọc cầu thận là lưu lượng nước tính bằng ml/ phút được cầu thận lọc sang ống thận; đo hệ số thanh lọc của một chất là thể tích huyết tương (ml) được thận lọc sạch chất đó trong một phút.
Thường các trường hợp thông thường chỉ cần thăm dò gián tiếp, khi đã khẳng định suy thận mãn cần thăm dò trực tiếp nhằm đánh giá mức độ suy và giai đoạn để áp dụng chế độ điều trị cho người bệnh.
Các chuyên gia thận niệu cho biết, tất cả nguyên nhân làm huyết áp động mạch giảm dưới 70mmHg sẽ ảnh hưởng đến chức năng lọc của cầu thận; nếu kéo dài sẽ dẫn đến suy thận chức năng cần phải điều trị để không dẫn đến suy thận thực thể. Một số thuốc làm co mạch thận cũng làm giảm lượng máu đến thận dẫn đến thiểu niệu. Đối với gây mê, các thuốc nhóm barbituric làm giảm lượng máu đến thận; Ether làm co mạch thận mạnh có thể gây thiếu oxy làm tổn thương thận sau gây mê. Halothan làm tụt huyết áp ảnh hưởng đến lưu lượng máu thận. Những yếu tố nguy cơ có thể gây suy thận cấp như sau mổ tim ở người cao tuổi; thời gian chạy tim phổi máy kéo dài; mổ động mạch chủ bụng, vàng da, suy giảm chức năng thất trái, đái tháo đường…
Suy thận là sự giảm mức lọc cầu thận (MLCT) dưới mức bình thường. MLCT là lượng nước tiểu đầu trong 1 phút, được đo bằng độ thải sạch Creatinin nội sinh, đây là chỉ số cần và đủ để đánh giá mức độ suy thận mạn. Bình thường MLCT trung bình 120ml/ phút hoặc 2ml/ giây.
Suy thận cấp gặp trong hồi sức cấp cứu, khi Creatinin trong huyết thanh tăng 50% hoặc lọc cầu thận giảm 50% so với trị số cơ bản. Đối với suy thận cấp do sỏi, vào ngày trước bệnh nhân thiểu niệu, lượng nước tiểu < 300 ml/ 24 giờ; sau đó vô niệu với lượng nước tiểu < 150 ml/ 24 giờ. Bệnh nhân có hội chứng u rê máu cao, nhức đầu, mất ngủ, lơ mơ, hôn mê; buồn nôn, nôn, ỉa chảy, bụng chướng, xét nghiệm sinh hóa máu tăng K+ máu.
Đối với suy thận mạn, tác giả Bricker cho rằng, một nephron nguyên vẹn gồm một cầu thận và ống thận nguyên vẹn, thực hiện chức năng; khi số lượng nephron chức năng giảm 75% thì mức lọc cầu thận giảm 50% so với bình thường, lúc này mới bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của suy thận mạn. Thận có chức năng điều hòa nội môi, suy thận gây ra rối loạn nội môi gọi chung là hội chứng u rê máu cao.
Gần đây có quan điểm, tăng nồng độ Creatinin ở trẻ sơ sinh được cho có liên quan đến nhiễm trùng, còn ở nam trưởng thành có liên quan đến nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Ở người trưởng thành, nồng độ Creatinin máu bình thường ở nam từ 0,6 đến 1,2 mg/dl (53-106 mmol/l); nữ từ 0,5 đến 1,1 mg/ll (44-97mmol/l). Khi mức Creatinin (mmol/l) nhỏ hơn 130 mmol/l là suy thận độ I; từ 130-299 là suy thận độ II; từ 300-499 là suy thận độ III a; từ 500-899 là suy thận độ III b; lớn hơn 900 là suy thận độ IV. Bệnh nhân suy thận từ độ III a trở lên bắt buộc phải điều trị thay thế bằng chạy thận nhân tạo cả đời.
Các bác sĩ thận niệu cho biết, triệu chứng bệnh thận ít biểu hiện ra lâm sàng, không tương xứng với sự tăng nồng độ Creatinin. Có những bệnh nhân mắc bệnh thận chỉ phát hiện ngẫu nhiên, nồng độ Creatinin máu cao nhưng không có triệu chứng. Một số người khác có biểu hiện mệt mỏi, phù, khó thở, thiếu máu, tăng huyết áp, đái ít; những triệu chứng khác như buồn nôn, nôn, da khô, giai đoạn này thường là suy thận giai đoạn cuối.
Hồng Sơn