
Thuật ngữ “Hội chứng tiền kinh” ( premenstrual syndrome) được Greene và Dalton đưa ra vào năm 1953.
Hội chứng tiền kinh là tập hợp rất nhiều triệu chứng đau đớn về thể chất, tâm lý và hành vi không gây ra bởi bệnh lý thực thể mà nó tái diễn đều đặn cùng với chu kỳ kinh nguyệt (chu kỳ buồng trứng), triệu chứng giảm dần và biến mất trong thời gian còn lại của chu kỳ kinh.
Khoảng 85-90% phụ nữ có hội chứng tiền kinh với mức độ từ nhẹ đến nặng. Khoảng 20-40% trường hợp có những rối loạn làm hạn chế khả năng tâm thần và sinh lý, khoảng 2-3% hội chứng tiền kinh mức độ nặng làm mất khả năng hoạt động thật sự. Lứa tuổi thường gặp hội chứng tiền kinh nhiều nhất là trên 20 đến 40 tuổi.
Đối với rối loạn tâm thần tiền kinh, trước khi hành kinh người phụ nữ có một trong những triệu chứng sau: tâm trạng chán nản, lo âu, căng thẳng rõ rệt, tức giận, khó chịu, giảm quan tâm những hoạt động bình thường. Ngoài ra còn có những triệu chứng như rối loạn giấc ngủ, cảm giác ngộp, choáng, các triệu chứng căng ngực, đầy hơi…Các triệu chứng xảy ra ở tuần cuối trước khi hành kinh và giảm đi trong vài ngày khi bắt đầu hành kinh.
Đối với hội chứng tiền kinh có ít nhất một trong những triệu chứng về thể chất và cảm xúc như: trầm cảm, giận dữ bùng nổ, lo lắng, lẫn lộn, khó chịu, cáu kỉnh, không tiếp xúc, căng vú, đầy hơi, nhức đầu, sưng phù tay chân. Các triệu chứng xảy ra trong 3 chu kỳ kinh trước đó và 2 chu kỳ kinh kế tiếp, xảy ra 5 ngày trước hành kinh và giảm đi trong 4 ngày hành kinh.
Nguyên nhân gây ra hội chứng tiền kinh chưa rõ, tuy nhiên các nghiên cứu đã ghi nhận những yếu tố góp phần vào tình trạng của hội chứng tiền kinh và chu kỳ thay đổi về nội tiết tố, thay đổi hóa học trong não; trầm cảm, căng thẳng và thói quen ăn uống thiếu chất. Đối với chu kỳ thay đổi về nội tiết tố hội chứng tiền kinh có liên quan đến sự mất cân bằng của progesterone và estrogen. Trong những ngày trước hành kinh, lượng estrogen giảm xuống dưới mức trung bình. Dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng tiền kinh thay đổi với những biến động nội tiết và biến mất vào thời kỳ mang thai và mãn kinh. Đối với yếu tố trầm cảm, một số phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nặng đã không được chẩn đoán trầm cảm. Đối với thói quen ăn uống những người ăn nhiều thức ăn mặn có thể gây giữ nước, uống rượu và đồ uống có cafein có thể gây rối loạn về cung cấp năng lượng và tâm lý.
Để chẩn đoán hội chứng tiền kinh, bác sỹ sẽ thu thập thông tin nhật ký ghi lại những dấu hiệu, triệu chứng trong ít nhất 2 chu kỳ kinh nguyệt sắp tới, lưu ý ngày đầu tiên xuất hiện triệu chứng cũng như ngày biến mất. Bác sỹ cần loại trừ những bệnh lý như nhược giáp, thiếu máu, rối loạn cảm xúc, trầm cảm không liên quan đến chu kỳ kinh.
Điều trị hội chứng tiền kinh, bác sỹ sẽ dựa trên hồ sơ cá nhân để có liệu trình điều trị phù hợp cho từng người. Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng phối hợp với điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và lối sống.
Đối với điều trị triệu chứng sử dụng các thuốc chống trầm cảm, chọn lọc các chất ức chế tái hấp thu serotonin. Qua đó giảm các triệu chứng mệt mỏi, khó ngủ. Thuốc có thể sử dụng hàng ngày, một số chỉ sử dụng hai tuần trước khi hành kinh.
Ngoài ra còn sử dụng các thuốc kháng viêm non-steroid giảm các triệu chứng đau bụng, đau vú, thuốc lợi tiểu, thuốc nội tiết như viên tránh thai làm giảm các triệu chứng thể chất và cảm xúc của hội chứng tiền kinh.
Đối với chế độ dinh dưỡng người bệnh cần có chế độ ăn hạn chế chất kích thích như trà, café, bia, rượu…giảm lượng muối trong chế độ ăn, hạn chế dầu mở, có thể nên chia nhỏ bữa ăn giúp hạn chế đầy hơi. Đối với lối sống cần tập thể dục đều đặn, chống lại mệt mỏi, kiểm soát stress bằng thư giản, tập yoga, thiền hoặc xoa bóp. Người bệnh có thể bổ sung thêm các vitamin, magiê, kẽm, canxi, vitamin A, vitamin D, B6, E để giúp cải thiện triệu chứng của hội chứng tiền kinh.
Tường Huân