
Đái tháo đường là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở những người trong độ tuổi lao động và đang có xu hướng trẻ hóa và tạo nên gánh nặng chi phí khổng lồ cho chăm sóc đái tháo đường ở nhiều nước đang phát triển trong tương lai. Điều may mắn là bệnh đái tháo đường hoàn toàn có thể phòng và quản lý có hiệu quả ngay ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ).
Mô hình bác sĩ gia đình (BSGĐ) đã chứng minh hiệu quả trong cung cấp các dịch vụ CSSKBĐ có chất lượng với mức chi phí hợp lý ở các nước phát triển. BSGĐ ở tuyến CSSKBĐ có thể giải quyết khoảng 80% yêu cầu chăm sóc sức khỏe và có vai trò then chốt trong quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường. Tại Việt Nam, mô hình BSGĐ đang được triển khai thí điểm với hơn 300 phòng khám BSGĐ ở 8 tỉnh, thành phố.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Khánh Toàn cùng cộng sự trường Đại học Y Thái Bình, trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu theo dõi dọc kết hợp hồi cứu và tiến cứu thực hiện báo cáo đề tài “Kết quả quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại phòng khám bác sĩ gia đình Yên Hòa, Cầu Giấy 2014-2016”.
Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được đăng ký quản lý điều trị từ tháng 7/2014 đến tháng 5/2016 tại phòng khám bác sĩ gia đình Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Có tổng cộng 101 bệnh nhân đái tháo đường được quản lý điều trị tại phòng khám bác sĩ gia đình Yên Hòa trong thời gian nghiên cứu; trong đó 98 bệnh nhân đã tái khám ít nhất một lần và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc kết hợp tiến cứu và hồi cứu trên những bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc đái tháo đường typ 2 được quản lý điều trị tại phòng khám bác sĩ gia đình Yên Hòa từ tháng 7/2014 đến tháng 5/2016. Các bệnh nhân này được khám và điều trị theo thường quy của Bộ Y tế và được quản lý bằng hồ sơ bệnh án quản lý bệnh mạn tính y học gia đình. Thông tin về việc khám, điều trị từ tháng 7/2014 đến tháng 5/2015 được thu thập hồi cứu và thông tin từ 6/2015-5/2016 được thu thập tiến cứu hằng tháng.
Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, bệnh nhân tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 43 đến 80 tuổi (trung bình 60,1 tuổi) với 63,3% là nữ giới. 100% bệnh nhân có BHYT. 34,7% bệnh nhân có tiền sử gia đình đái tháo đường và 35,7% có tiền sử gia đình tăng huyết áp; 8,1% bệnh nhân nữ có tiền sử sinh con to. Triệu chứng hay gặp nhất ở khi được chẩn đoán đái tháo đường là mệt mỏi không rõ nguyên nhân (43,9%); 78,3% bệnh nhân có rối loạn ít nhất 1 chỉ số mỡ máu và 45,9% có tăng huyết áp kèm theo. Giá trị trung vị số lần tái khám của BNBN kể từ khi bắt đầu được quản lý là 12 (dao động từ 2-22 lần).

Đối với chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng, các chỉ số huyết áp tâm thu, glucose máu, HbA1c, triglycerid, cholesterol toàn phần, LDL có xu hướng giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,05 sau mỗi lần tái khám. Kết quả này tương tự như một nghiên cứu tại Iran năm 2015. Theo BS Trần Khánh Toàn điều thú vị là cũng tương tự như nghiên cứu này, chỉ số BMI của bệnh nhân cũng tăng theo thời gian điều trị, mặc dù trong nghiên cứu, sự khác biệt sau mỗi lần tái khám chưa có ý nghĩa thống kê.
Kết quả kiểm soát đường máu. Xét nghiệm glucose có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, chẩn đoán và theo dõi điều trị của bệnh nhân đái tháo đường. ADA khuyến cáo bệnh nhân đái tháo đường cần nổ lực đạt được chỉ số glucose máu khi đói trung bình từ 3,9-7,2 mmol/l cũng như HbA1c < 7%. Tác giả nghiên cứu cho biết nồng độ glucose máu trung bình khi đói của bệnh nhân giảm dần từ 7,2 mmol/l lức bắt đầu được quản lý điều trị xuống còn 6,4 mmol/l lúc tái khám lần thứ 20 trở đi. Chỉ số glucose máu trung bình trong nghiên cứu thấp hơn nhiều nghiên cứu khác bởi phần lớn các bệnh nhân trước khi được quản lý tại phòng khám Yên Hòa đã được điều trị tại các nới khác với thời gian trung bình 3,5 năm. Bởi vậy, tốc độ giảm của nồng độ glucose máu trung bình lúc đói cũng là điều dễ hiểu. Cũng với lý do đó, tỷ lệ bệnh nhân đạt được mục tiêu kiểm soát glucose máu lúc đói trong nghiên cứu là 96,7%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Đào Bích Hường.
Diễn biến chỉ số HbA1c theo thời gian quản lý. HbA1c là mục tiêu quan trọng của kiểm soát đường máu, cung cấp một thước đo dài hạn hữu ích của kiểm soát đường máu. ADA khuyến cáo rằng bệnh nhân đái tháo đường nên duy trì nồng độ HbA1c của họ dưới 7% tổng số hemoglobin trong các tế bào. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đạt mục tiêu HbA1c tăng dần theo thời gian quản lý điều trị; từ 33,5% (95%CI: 25% - 44%) ở lần tái khám thứ 5 đến 60% (95%CI: 50 – 71%) ở lần tái khám thứ 10 và 79% (95%CI: 67% - 88%) ở lần thứ 20. Tỷ lệ đạt mục tiêu HbA1c tích lũy trong nghiên cứu cao hơn so với những nghiên cứu trước đây ở Việt Nam với 31,9% và 38,8%.
Tỷ lệ đạt mục tiêu kiểm soát ĐTĐ theo tiêu chuẩn ADA. Tính đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, có 40,8% bệnh nhân đạt được cả 3 mục tiêu kiểm soát bệnh theo tiêu chuẩn ADA 2014. Kết quả này khá cao so với nghiên cứu khác ở trong và ngoài nước như nghiên cứu của Đào Bích Hường tại bệnh viện Bạch Mai với 12,4%; nghiên cứu tại Iran với 7,7% (95%CI: 6,7 – 8,8); nghiên cứu của Trung tâm CDC Atlanta từ 1999-2010 với 14,3% và nghiên cứu của Emily B. Schrose với 16% và 30%. Bên cạnh khác biệt về lối sống,tình trạng kinh tế xã hội, hệ thống y tế tại các địa bàn nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị cao trong nghiên cứu này có thể do đa số bệnh nhân đều đang ở mức độ nhẹ, một số bệnh nhân đã được quản lý ổn định từ nơi khác chuyển đến. Mặc dù vậy, kết quả bước đầu về quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại tại phòng khám BSGĐ Yên Hòa là rất đáng khích lệ, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu để nhân rộng mô hình này.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, đa số các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân như huyết áp, glucose máu, mỡ máu, HbA1c đều giảm có ý nghĩa thống kê sau mỗi lần tái khám. Khả năng đạt mục tiêu kiểm soát đường máu là 96,7% (95%CI: 91,5% - 95,1%) sau 10 lần khám và đạt mục tiêu kiểm soát HbA1c là 78,6% (95%CI: 67% - 88,3%) sau 20 lần khám. Tính đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, 40,8% bệnh nhân đạt mục tiêu điều trị đái tháo đường theo tiêu chuẩn của ADA 2014 về cả ba yếu tố HbA1c, mỡ máu và huyết áp. Cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét mở rộng mô hình quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường tại các phòng khám BSGĐ.
Hồng Hoa