{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Lĩnh vực Y
Các yếu tố nguy cơ về an toàn vệ sinh lao động đối với nhân viên y tế
[Đăng ngày: 05/09/2016]
Nhân viên y tế (NVYT) có nguy cơ cao bị lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm do tiếp xúc với máu, dịch cơ thể, chất thải y tế của bệnh nhân bị nhiễm các bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, C, HIV, Lao v.v..., tiếp xúc với các vật sắc nhọn, bị tổn thương da do các vật sắc nhọn nhiễm các bệnh trên.
NVYT bị mắc phải từ nhiều nguồn khác nhau ở cơ sở làm việc như tiếp xúc hàng ngày với bệnh nhân, các thiết bị, các mẫu bệnh phẩm, các mô người và động vật thí nghiệm, các chế phẩm sinh học động vật v.v... Các nhóm nghề có nguy cơ cao bao gồm các nha sỹ, điều dưỡng, NVYT làm trong lĩnh vực chăm sóc, điều trị, xét nghiệm tại các bệnh viện, các phòng thí nghiệm, các cơ sở y tế, những người làm việc tại nhà xác.
Theo ước tính trên thế giới có khoảng 3 triệu NVYT bị tổn thương do các vật sắc nhọn tiếp xúc với các vi rút lây nhiễm qua đường máu mỗi năm. Như vậy theo ước tính có 16.000 trường hợp bị lây nhiễm viêm gan C, 66.000 trường hợp bị lây nhiễm viêm gan B, và 200 đến 5000 trường hợp bị lây nhiễm vi rút HIV.
Lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp như Lao và SARS cũng là một vấn đề lớn ở NVYT. Nhân viên y tế đã từ lâu có nguy cơ bị bệnh Lao và các trường hợp Lao ở nhân viên y tế chiếm khoảng 3% tất cả các trường hợp Lao.
Các nghiên cứu trong nước cũng chỉ ra nguy cơ cao đối với NVYT tiếp xúc với máu/chế phẩm của máu, dịch cơ thể của bệnh nhân. Theo kết quả điều tra của Ủy ban phòng chống AIDS cho thấy số tai nạn rủi ro nghề nghiệp ở các phòng xét nghiệm HIV (theo thống kê chưa đầy đủ) riêng trong năm 1999 tới 62 vụ (trong số 695.097 mẫu xét nghiệm HIV được làm), đây là một kiểu tai nạn do kim lấy máu châm vào tay nhân viên y tế. Như vậy nguy cơ lây nhiễm bệnh từ bệnh nhân HIV/AIDS qua đường máu là rất cao. Nghiên cứu của tác giả Viên Chinh Chiến (1998), Khúc Xuyền và cộng sự (1999) và Phùng Thị Thanh Tú (1998) cũng chỉ ra nguy cơ cao ở NVYT tiếp xúc với các tác hại sinh học và bị lây nhiễm bệnh viêm gan B với tỷ lệ HBsAg (+) có tỷ lệ từ 13,1 – 23,4%.
Tiếp xúc với bức xạ ion hóa, các NVYT như nhân viên X quang, nhân viên khoa y học hạt nhân, nhân viên xạ trị, nhân viên các khoa xét nghiệm và điều trị có sử dụng chất phóng xạ, như định lượng một số hócmon, điều trị bệnh ung thư v.v.. tiếp xúc nhiều với bức xạ ion hóa. Tiếp xúc tích lũy với liều thấp có thể gây những hủy hoại về mặt sinh học. Bức xạ ion hóa gây biến đổi gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc hủy hoại phân chia tế bào và can thiệp vào các quá trình chuyển hóa. Ngoài ra còn có các ảnh hưởng khác như gây ung thư máu, xương, da và tuyến giáp v.v..
Tiếp xúc với các hóa chất độc hại, các hóa chất phổ biến trong các cơ sở y tế là các hóa chất sát trùng và khử khuẩn như chlorine, iodine, formaldehyde... hóa chất sử dụng trong các phòng xét nghiệm sinh hóa, huyết học, tế bào... dược liệu, thuốc các loại sử dụng trong khám chữa bệnh cũng đều có bản chất hóa học như chất gây mê gây tê, các hóa chất chữa ung thư, thuốc an thần, kháng sinh... Nhiều loại là độc dược thuộc bảng A.
Hóa chất thâm nhập vào cơ thể theo 3 đường chính: Đường hô hấp là đường vào quan trọng nhất trong tiếp xúc nghề nghiệp, hấp thụ qua da khi tiếp xúc trực tiếp với hóa chất, đường tiêu hóa do ăn hoặc uống phải khi thiếu vệ sinh.
Nhiều hóa chất tiệt trùng được sử dụng trong bệnh viện, trong đó chủ yếu là các hóa chất như cồn isopropyl, clo, iốt, phenol, các hợp chất amoni bậc 4, glutaraldehyde và formaldehyde, chủ yếu dùng để tiệt trùng các dụng cụ gây mê, dụng cụ mổ, nhiệt kế, kim tiêm, diệt các vi khuẩn v.v.. và là chất ướp xác như formaldehyde và glutaraldehyde. Tiếp xúc với các hóa chất này có một số tác hại như kích thích mắt và niêm mạc, đau đầu và khó thở, kích thích da, dị ứng da v.v.. và có thể gây ung thư như formaldehyde.
Tiếp xúc với glutaraldehyde có thể gây kích thích cho da, đường hô hấp, mắt và cũng có liên quan đến nhiều triệu chứng về mũi, hô hấp, mắt và đau đầu. Tiếp xúc với glutaraldehyde cho thấy làm giảm FVC và FEV1 ở người tiếp xúc. Viêm da tiếp xúc dị ứng và hen được báo cáo ở các NVYT do tiếp xúc nghề nghiệp không thường xuyên hoặc vô tình với glutaraldehyde.
Ôxit nitơ (N2O) được sử dụng là chất khí gây mê trong phẫu thuật bên cạnh các chất halogen. Tiếp xúc với khí ôxit nitơ gây ra các tác hại ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản cho các nhân viên phòng mổ như tăng nguy cơ sảy thai ở nhân viên nữ.
Các yếu tố liên quan tổ chức lao động, làm việc ca kíp, làm việc ban đêm. Trong nghiên cứu mới đây của Châu Âu, 28% lực lượng lao động làm việc theo ca kíp,10% làm việc ca đêm, trong khi đó 17% làm việc theo 2 hoặc 3 ca. Làm việc ban đêm có tỷ lệ cao ở ngành y tế, sản xuất chế tạo, và các ngành nghề thủ công. Xu hướng toàn cầu hướng tới “xã hội 24 giờ” thì các tỷ lệ đó có xu hướng tăng.
Theo yêu cầu của công việc, hầu hết NVYT, đặc biệt trong các bệnh viện đều phải làm việc theo chế độ ca kíp, làm đêm để đảm bảo chế độ làm việc 24/24 giờ. Làm việc ban đêm dễ bị thiếu ngủ, giấc ngủ sau ca đêm thường là ngắn hơn. Các chức năng của bộ não và cơ thể bị giảm vào ban đêm và sáng sớm. Kết hợp giữa sự thiếu ngủ và làm việc vào thời điểm các chức năng của cơ thể bị hạn chế có thể gây mệt mỏi và mất ngủ trầm trọng, khó thực hiện được công việc tốt và tăng nguy cơ xảy ra tai nạn.
Các yếu tố ecgônômi, tư thế làm việc bất hợp lý, nâng nhấc bệnh nhân, v.v... Với tính chất đặc thù nghề nghiệp, công tác điều trị, cấp cứu, chăm sóc bệnh nhân đòi hỏi NVYT làm việc với nhiều tư thế khác nhau. NVYT khoa ngoại thường xuyên phải làm việc trong tư thế đứng kéo dài khi thực hiện các ca phẫu thuật, bác sĩ nha khoa luôn phải cúi vặn người khi khám và điều trị bệnh nhân, các bác sĩ và điều dưỡng viên luôn phải cúi hoặc vặn người khi tiêm, chăm sóc vết thương trên giường bệnh, các kỹ thuật viên làm việc trong tư thế ngồi kéo dài để làm các xét nghiệm v.v... Đây chính là nguyên nhân gây rối loạn cơ xương ở NVYT.
Các yếu tố tâm lý xã hội, stress nghề nghiệp, hầu hết NVYT làm việc tại các khoa trong bệnh viện đều chịu các yếu tố gây stress trong lao động, đặc biệt là NVYT tại các khoa điều trị tích cực, khoa bỏng, khoa cấp cứu, khoa ngoại, khoa truyền nhiễm, khoa sản v.v...
Những điều kiện lao động gây stress là công việc quá tải (như số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh hàng ngày quá nhiều, lượng mẫu xét nghiệm trong ngày quá lớn v.v...), tiếp xúc với nhiều người (bệnh nhân và người nhà bệnh nhân), với nhiều loại bệnh nguy hiểm tiềm ẩn, luôn luôn lo lắng bị lây nhiễm các bệnh nguy hiểm, nguy cơ rủi ro tai nạn nghề nghiệp, luôn phải đề phòng bạo lực từ người nhà bệnh nhân và bệnh nhân, tổ chức lao động không hợp lý, quan liêu giấy tờ, tinh thần trách nhiệm cao v.v...
Các nguy cơ tiếp xúc với chất thải y tế. Theo “Quy chế quản lý chất thải y tế” của Bộ Y tế, chất thải trong các cơ sở y tế được phân làm 5 loại: chất thải lâm sàng, chất thải phóng xạ, chất thải hóa học độc hại, chất thải chứa khí có áp suất và chất thải thông thường.
Theo các thống kê chất thải bệnh viện là nguồn tác hại lớn đến sức khỏe của các NVYT. Những NVYT tiếp xúc với chất thải nhiều nhất là các điều dưỡng, hộ lý, nhân viên dọn vệ sinh và làm bếp. Tỷ lệ tổn thương do các vật sắc nhọn từ chất thải y tế hàng năm ở những công việc này là khoảng 10-20 người/1.000 người. Nhân viên y tế dọn vệ sinh có tỷ lệ tổn thương cao nhất: 180/1.000 người trong 1 năm cao hơn 2 lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại. Ước tính các NVYT thuộc bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn từ chất thải y tế hàng năm là: y tá 17.700/22.200, hộ lý 11.700/45.300, xét nghiệm viên 800/7.500, các bác sĩ và nha sĩ 100/400. Ước tính số lượng nhân viên y tế bệnh viện bị nhiễm HBV liên quan đến chất thải y tế do những tổn thương là y tá 26/45, hộ lý 23/91, xét nghiệm viên 2/15, bác sĩ và nha sĩ < 1.
Huy Hoàng
Chi tiết
Các tin khác
31/08/2016:
Quản lý môi trường lao động và sức khỏe
29/08/2016:
Hướng dẫn tầm soát ung thư cổ tử cung
29/08/2016:
Những lưu ý trong chẩn đoán khi soi cổ tử cung
26/08/2016:
Những lưu ý trong chẩn đoán khi soi cổ tử cung
19/08/2016:
Những quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động
16/08/2016:
Các yêu cầu an toàn đối với nồi hơi, thiết bị áp lực
14/08/2016:
Hiệu quả của Prostaglandin sử dụng cho sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh
07/08/2016:
Phân tích chi tiêu y tế theo vùng miền
31/07/2016:
Phát triển y học gia đình nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại cơ sở
27/07/2016:
Phẫu thuật tạo hình mũi
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
137
Số lượt truy cập:
9358939
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa