{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Lĩnh vực Y
Hướng dẫn tầm soát ung thư cổ tử cung
[Đăng ngày: 29/08/2016]
Xét nghiệm HPV DNA ngày nay được khuyến cáo sử dụng với xét nghiệm PAP’smear nhằm nâng cao khả năng sàng lọc các trường hợp nghi ngờ, giúp theo dõi bệnh chặt chẽ hơn và có hiệu quả thật sự trong tầm soát ung thư cổ tử cung.
Xét nghiệm HPV DNA có độ nhạy cao và giá trị dự báo âm tính cao. Nếu test HPV-DNA âm tính, gần như không có nguy cơ hình thành bất thường tế bào (CIN III) trong vòng 6-10 năm sau đó. Điều này cho phép giãn thời gian sàng lọc trong cuộc đời người phụ nữ. Khi HPV-DNA dương tính, thực hiện xét nghiệm phát hiện sự gắn chèn của HPV vào bộ gene người để tiên lượng ung thư cổ tử cung và có hướng xử lý kịp thời.
Tuổi bắt đầu tầm soát: Nhiễm HPV là bệnh thường gặp, khoảng 45% phụ nữ Mỹ tuổi đôi mươi bị nhiễm HPV, nhưng trẻ tuổi, khả năng miễn dịch cao, sau 6-24 tháng >90% tự khỏi bệnh và HPV (-). Do đó chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung sử dụng xét nghiệm tìm HPV DNA không khuyến cáo áp dụng cho những phụ nữ rất trẻ. Với phụ nữ ≥ 30 tuổi, xét nghiệm HPV DNA đặc biệt có ý nghĩa vì cho phép kéo dài khoảng cách giữa hai lần xét nghiệm.
Tại Hoa Kỳ, với khuynh hướng bảo thủ, Hiệp hội Sản phụ khoa (ACOG), Hiệp hội Ung thư (American Cancer Society) sử dụng cả HPV DNA và PAP.
- Trước đây khuyến cáo tuổi bắt đầu tầm soát là 3 năm sau lần giao hợp đầu tiên.
- Hiện nay: từ 21-29 tuổi làm PAP. Với những phụ nữ >30 tuổi làm PAP và HPV. Nếu HPV (-) và PAP (-) khoảng cách giữa 2 lần tầm soát có thể kéo dài 3-5 năm.
Hướng dẫn về xét nghiệm đầu tay tầm soát ung thư cổ tử cung với HPV
Ngày 08/1/2015 ASCCP và SGO đưa ra hướng dẫn:
- Xét nghiệm đầu tay tầm soát ung thư cổ tử cung HPV (Cobas HPV Test) cho những phụ nữ bắt đầu từ 25 tuổi được xem như thay thế phương pháp hiện nay của Hoa Kỳ dựa trên tế bào vì độ nhạy của HPV lên đến 95% trong khi độ nhạy của PAP thấp.
- Chiến lược phòng chống hiệu quả.
- Nghiên cứu hiệu quả của vaccin, đặc biệt khi định riêng các týp HPV 16,18.
- Những phụ nữ HPV (-) sẽ được xét nghiệm lại sau ít nhất 3 năm.
- HPV(+) với týp 16 hoặc 18 sẽ được soi cổ tử cung. HPV (+) với 12 týp nguy cơ cao khác sẽ làm PAP.
Ý nghĩa của việc định týp HPV và định nhóm HPV nguy cơ cao.
Xác định từng týp HPV riêng lẻ chỉ cần cho:
- Nghiên cứu dịch tễ học về sự phân bố các týp HPV trong cộng đồng nhằm có
- Tiến hành các nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng. Việc xác định từng týp HPV không cần thiết cho tầm soát ung thư cổ tử cung. Hơn nữa, việc xác định 01 týp “nguy cơ thấp” bất kỳ không những không có ý nghĩa gì cho điều trị mà còn gây hoang mang một cách không cần thiết cho bệnh nhân.
Một số khuyến cáo từ các tổ chức y tế thế giới về xét nghiệm HIV DNA trong tầm soát ung thư cổ tử cung
1. Theo ASCCP: Hiệp hội nội soi cổ tử cung và bệnh lý cổ tử cung Hoa Kỳ.
Xét nghiệm HPV chỉ nên phát hiện các týp HPV nguy cơ cao (gây ung thư) chủ yếu 16,18,31,33,35,39,45,51,52,56,58,59,66,68.
2. Theo ACOG: Hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ
Xét nghiệm HPV chỉ hướng đến phát hiện các týp thuộc nhóm nguy cơ cao. Các xét nghiệm cho nhóm HPV nguy cơ thấp không nên tiến hành.
3. Theo ARHP: (Association of Reproductive Health Professionals- Hiệp hội các Chuyên gia sức khỏe sinh sản; CDC (centers for Disease Control and Prevention – Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh) cũng cho những khuyến cáo tương tự.
Tầm soát ung thư cổ tử cung sẽ có thay đổi gì trong tương lai?
Xét nghiệm HPV DNA sẽ được áp dụng trong tầm soát ung thư cổ tử cung, với các chỉ định phù hợp với các yếu tố nguy cơ (độ tuổi, sinh hoạt tình dục…) cần đi kèm với những biện pháp tư vấn, giải thích cặn kẽ cho người phụ nữ về ý nghĩa và kết quả tầm soát.
Từ các công trình nghiên cứu về cơ chế diễn tiến ung thư cổ tử cung, nhiều dấu ấn sinh học sẽ được phát triển và sử dụng phối hợp với các xét nghiệm tế bào học và HPV DNA để phát hiện sớm diễn tiến ung thư cổ tử cung.
- Vaccin HPV có thể được phổ biến nhiều hơn và sẽ có nhiều công trình đánh giá hiệu quả các vaccin được lưu hành hướng tới việc sử dụng vaccin hiệu quả hơn. Có thể có thêm vaccin mới phòng ngừa các týp HPV khác ngoài 16,18,6,11.
- Vaccin điều trị sẽ được phát triển thêm ngoài các týp HPV nguy cơ cao (gây ung thư) yếu tố 16,18,31,33,35,39,45,56,58,59.
Theo PGS.TS Vũ Thị Nhung – Chủ tịch Hội Phụ sản thành phố Hồ Chí Minh, ung thư cổ tử cung là một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu. Tỷ lệ mắc ung cổ tử cung ở các nước đang phát triển cao gấp 10 lần so với các nước phát triển. Tỷ lệ mắc bệnh thấp là kết quả của những chương trình tầm soát tế bào bất thường của cổ tử cung được tiến hành rộng rãi./.
Trần Hưng
Chi tiết
Các tin khác
29/08/2016:
Những lưu ý trong chẩn đoán khi soi cổ tử cung
26/08/2016:
Những lưu ý trong chẩn đoán khi soi cổ tử cung
19/08/2016:
Những quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động
16/08/2016:
Các yêu cầu an toàn đối với nồi hơi, thiết bị áp lực
14/08/2016:
Hiệu quả của Prostaglandin sử dụng cho sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh
07/08/2016:
Phân tích chi tiêu y tế theo vùng miền
31/07/2016:
Phát triển y học gia đình nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại cơ sở
27/07/2016:
Phẫu thuật tạo hình mũi
27/07/2016:
Chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em
25/07/2016:
Phẫu thuật tạo hình ngực
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
107
Số lượt truy cập:
9359045
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa