[Đăng ngày: 14/08/2016]
Cấp cứu tim mạch sơ sinh là một cấp cứu sơ sinh thường gặp và nặng, tỷ lệ tử vong cao nếu không xử lý kịp thời.
Đối với sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh tắc nghẽn đường ra thất trái hay phải, ống động mạch giữ vai trò sống còn giúp đảm bảo tuần hoàn phổi hay tuần hoàn hệ thống cứu sống trẻ tạm thời trong thời gian chờ đợi được can thiệp điều trị. Tuy nhiên đa số ống động mạch sẽ tự đóng lại từ từ về mặt sinh lý sau 10-15 giờ tuổi và đóng hoàn toàn về cơ thể học sau 2-3 tuần tuổi. Có một số yếu tố góp phần quyết định sự đóng lại ống động mạch như sự gia tăng ôxy hóa máu, prostaglandin, cầu tạo mô học của ống động mạch.
Prostaglandin là thuốc quan trọng trong cấp cứu tim mạch sơ sinh có tác dụng mở hay duy trì ống động mạch. Prostaglandin là yếu tố trực tiếp giúp điều hòa trương lực cơ của ống làm cho ống không co thắt lại. Ở các trung tâm tim mạch trên thế giới prostaglandin ngoại sinh đã được đưa vào sử dụng rộng rãi nhiều năm nay, cứu sống rất nhiều trẻ.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Minh Trí Việt cùng cộng sự Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã có nghiên cứu “Đánh giá sơ bộ hiệu quả Prostaglandin sử dụng cho trẻ sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch”.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh nhập viện có chỉ định truyền prostaglandin cấp cứu với các nhóm bệnh gồm: Bệnh lý tim bẩm sinh có tuần hoàn động mạch phổi phụ thuộc ống động mạch. Bệnh lý tim bẩm sinh có tuần hoàn hệ thống phụ thuộc ống động mạch. Chuyển vị đại động mạch.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2012, có 30 trẻ đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu; trong đó có 25 ca có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch; 04 ca tuần hoàn chủ phụ thuộc ống động mạch và 01 ca chuyển vị đại động mạch.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Minh Trí Việt, bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi hay hệ thống phụ thuộc ống đông mạch, sau sinh trẻ sẽ tử vong khi ống động mạch đóng nếu không xử trí kịp thời và có thể chẩn đoán nhầm với nhiều nguyên nhân khác.
Prostaglandin là thuốc quan trọng để cứu sống tạm thời trẻ, nhờ đó các bác sĩ có thời gian ổn định huyết động học cho trẻ trước can thiệp điều trị.
Năm 1962 Bergstrom tìm được cấu tạo hóa học và năm 1964 prostaglandin bắt đầu được sinh tổng hợp. Prostaglandin là một acid béo có hầu hết ở các mô bao gồm cả ống động mạch phôi thai, trong đó prostaglandin type E có tác dụng mạnh làm giãn hầu hết các động mạch qua tác dụng trực tiếp giãn cơ trơn mạch máu. Các tác dụng khác bao gồm tăng cung lượng tim, giãn mạch máu hệ thống phổi và ống động mạch, ức chế kết tập tiểu cầu, giãn cơ phế quản, tăng lưu lượng máu thận và chậm thời gian làm trống dạ dày.
Từ năm 1970 prostaglandin E1 và E2 bắt đầu được đưa vào sử dụng để duy trì ống động mạch ở cừu mới sinh, sau đó áp dụng ở trẻ sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc ống. Ở Mỹ qua 56 nghiên cứu của Lewis AB với 492 bệnh nhân dùng PGE1 từ năm 1976 đến 1979 đã giảm đáng kể tỷ lệ tử vong sau sinh (34% tử vong so với nghiên cứu trước đó năm 1967-1976 có 68% tử vong không dùng prostaglandin), với 43% có ít nhất 1 tác dụng phụ nhưng không đáng kể và không có ca nào tử vong do tác dụng phụ của thuốc. Từ năm 1981 prostaglandin đã được FDA chấp nhận sử dụng cho trẻ sơ sinh.
Prostaglandin đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam prostaglandin mới được sử dụng gần đây. Qua nghiên cứu, BS. Nguyễn Minh Trí Việt có những nhận xét như sau:
Thời điểm bắt đầu dùng: Trung bình khoảng 4,5 ngày, trong đó 70% (21/30) trẻ được truyền trong 96 giờ sau sinh. Theo những nghiên cứu thế giới truyền prostaglandin trong 96 giờ sau sinh có đáp ứng tốt hơn những trẻ được truyền muộn. Trong nghiên cứu trẻ được phát hiện và dùng thuốc khá sớm nhờ phát hiện chẩn đoán sớm qua phối hợp chẩn đoán tiền sản giữa bệnh viện sản và nhi. Tuy nhiên tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 có một số trẻ nhập viện muộn hơn 96 giờ được truyền prostaglandin, qua quan sát nhóm nghiên cứu nhận thấy ống động mạch vẫn đáp ứng mở tốt, cụ thể SPO2 trẻ vẫn cải thiện tốt (trên 10%) sau truyền prostaglandin 1 giờ (có 9 ca truyền sau 96 giờ tuổi và có 8 ca đáp ứng tốt).
Nhóm bệnh: 83,3% trẻ bệnh tim có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch, 13,3% trẻ tuần hoàn hệ thống phụ thuộc ống và 3,4% trẻ tuần hoàn máu trộn.
Trong thời gian nghiên cứu tác giả nhận thấy phần lớn sơ sinh được truyền prostaglandin là nhóm trẻ bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch chiếm tỷ lệ đến 83,3% (Tác giả nghiên cứu lý giải do nhóm trẻ này dễ phát hiện trên lâm sàng và xử trí kịp thời hơn nhóm trẻ có tuần hoàn hệ thống phụ thuộc ống động mạch khó phát hiện hay chẩn đoán nhầm với các bệnh cảnh sốc khác và tử vong trước hay ngay khi nhập viện) (nghiên cứu thế giới 78,3%).
Sự cải thiện SPO2: Đối với nhóm trẻ có bệnh tim bẩm sinh tuần hoàn phổi phụ thuộc ống hay chuyển vị đại động mạch: Tình trạng ôxy hóa máu cải thiện đáng kể sau 1 giờ dùng prostaglandin với SPO2 tăng trung bình khoảng 18,5%. SPO2 tăng cao nhất 44%. Thấp nhất 0% - 1 ca dùng prostaglandin lúc 10 ngày tuổi PDA đã đóng và không hiệu quả. Theo nghiên cứu A Beitzke và CH Suppan sau truyền prostaglandin 1 đến 2 giờ SPO2 những trẻ chuyển vị đại động mạch đã cải thiện PaO2 trung bình khoảng 15mmHg.
Đối với nhóm trẻ có tắt nghẽn đường ra thất trái (4 ca) nhóm nghiên cứu đánh giá chủ yếu dựa vào tình trạng huyết động, siêu âm tim trước và sau dùng prostaglandin: 1 ca ống động mạch còn mở tốt trước dùng prostaglandin và được dùng prostin duy trì mở ống đến ngày phẫu thuật, 2 ca ống động mạch co nhỏ - 1 ca ống đã đóng và có triệu chứng giảm tưới máu cơ quan, sau 1 giờ dùng prostin siêu âm kiểm tra ống mở lớn hơn và tưới máu hệ thống cải thiện trong 24 giờ tiếp và 1 trong 3 ca sau 10 ngày dùng prostaglandin thì quyết định ngưng dùng vì bệnh lý hệ thống nặng (xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch).
Kết quả này cho thấy prostaglandin có hiệu quả rõ rệt trong cứu sống trẻ sơ sinh ở cả 3 nhóm bệnh tim, đặc biệt thể hiện qua sự tăng đáng kể SPO2 ở nhóm trẻ tim bẩm sinh tím phụ thuộc ống động mạch.
Tác dụng phụ: Sốt không do nhiễm khuẩn 9/30 ca chiếm tỷ lệ 30% (theo nghiên cứu của tác giả Lewis AB tỷ lệ này là 4,2%). Phù 1/30 ca chiếm tỷ lệ 3,34% (theo nghiên cứu của Lewis là 6,9%). Không có ca nào ngưng thở cần đặt NKQ, co giật, hạ huyết áp hay viêm ruột cần nuôi ăn tĩnh mạch, rối loạn chuyển hóa hay suy thận. Kết quả này cho thấy prostaglandin có tác dụng phụ nhưng không nghiêm trọng (33,34%).
BS. Nguyễn Minh Trí Việt có kết luận cho nghiên cứu gồm (1) prostaglandin bao gồm cả E1 và E2 có hiệu quả rõ rệt trong việc mở lại và hoặc duy trì ống động mạch đối với trẻ sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc ống. Tỷ lệ tác dụng phụ thấp và không nghiêm trọng chủ yếu là sốt và phù. Tiên lượng tiếp theo ban đầu 73% trẻ được cứu sống sau khi được phẫu thuật triệt để hay đặt stent PDA, RV-PA. Đây là tỷ lệ thành công đáng kể cứu sống sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch mà trước đây khi chưa dùng prostaglandin tỷ lệ trẻ nhập viện tử vong cao.
Hiện nay với sự cộng tác chặt chẽ giữa bệnh viện sản và nhi trong chẩn đoán, theo dõi tiền sản và sau sinh, cũng như chẩn đoán kịp thời sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh khi nhập viện, Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã áp dụng truyền prostaglandin như một cấp cứu thường quy đối với sơ sinh đã được chẩn đoán xác định và có chỉ định dùng của bác sĩ tim mạch./.
Hữu Cao   
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 102

Số lượt truy cập: 9359039

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang