[Đăng ngày: 01/11/2016]
Ung thư vòm mũi họng (UTVMH) là tổn thương bệnh lý ác tính của các tế bào niêm mạc và dưới niêm mạc vùng vòm mũi họng.
Đây là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở nước ta và một số nước vùng Nam Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore … Theo GLOBOCAN 2012 tại Việt Nam ung thư vòm đứng hàng thứ 5 ở nam giới với tỷ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 7,7/100.000 dân và hàng thứ 10 ở nữ giới với tỷ lệ 3,4/100.000 dân. UTVMH cũng là bệnh gặp nhiều nhất trong các bệnh ung thư vùng đầu cổ.
Chẩn đoán bệnh dựa trên các xét nghiệm lâm sàng, cận lâm sàng, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và FDG PET/CT. Kỹ thuật chụp FDG PET/CT có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác cao trong chẩn đoán UTVMH, trở thành công cụ hữu hiệu giúp chẩn đoán chính xác giai đoạn bệnh mang lại hướng điều trị đúng đắn.
Từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2013 nhóm tác giả nghiên cứu Trần Hải Bình, Mai Trọng Khoa, Nguyễn Danh Thanh – Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân Y tiến hành nghiên cứu đề tài: “FDG PET/CT trong chẩn đoán giai đoạn ung thư vòm mũi họng”. Với mục tiêu đánh giá vai trò của PET/CT trong chẩn đoán xác định giai đoạn ung thư vòm mũi họng.
Đối tượng nghiên cứu là 60 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư vòm mũi họng (có mô bệnh học) chụp PET/CT tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai.
Quy trình nghiên cứu, bệnh nhân vào viện:  (1) chẩn đoán xác định (sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học); (2) đánh giá giai đoạn TNM theo hệ thống phân loại của Hội ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer – AJCC 2010) dựa trên lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, y học hạt nhân; (3) chụp FDG PET/CT toàn thân (phân tích kết quả: xác định u, hạch di căn, di căn xa; kích thước và SUV của tổn thương; (4) Xác định lại giai đoạn bệnh (kết hợp xét nghiệm đã có và FDG PET/CT), so sánh.
Theo phân tích của tác giả Trần Hải Bình, nghiên cứu cho thấy bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhỏ tuổi nhất là 15 tuổi, lớn tuổi nhất là 72 tuổi, trong đó hay gặp nhất ở nhóm tuổi 60 – 69 là 25%, nhóm tuổi trên 40 – 49 và 50 – 59 là 21,7% và 18, 3%.
Bệnh UTVMH gặp nhiều ở nam hơn nữ. Trong đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ nam giới gấp 3 lần so với nữ giới. Kết quả nghiên cứu xét nghiệm FDG PET/CT phát hiện được nhiều hạch cổ di căn và tổn thương xâm lấn xương nền sọ hơn CT/MRI.
BS Trần Hải Bình cho rằng chụp PET/CT toàn thân giúp đánh giá được độ xâm lấn của u vào các tổ chức xung quanh, phát hiện được các di căn hạch vùng và di căn xa, giúp phân loại giai đoạn bệnh chính xác hơn. Trong nghiên cứu này khi so sánh giai đoạn bệnh trước và sau chụp PET/CT, tác giả nghiên cứu nhận xét PET/CT phát hiện thêm được một số tổn thương có ý nghĩa quan trọng vì chúng thay đổi hoàn toàn giai đoạn bệnh như: tổn thương xâm lấn xương nền sọ, di căn hạch cổ đối bên, di căn hạch thượng đòn, di căn vào xương, gan, phổi: có 23/60 bệnh nhân (38,3%) thay đổi giai đoạn bệnh.
Về chỉ định điều trị UTVMH phụ thuộc giai đoạn bệnh, týp mô bệnh học và thể trạng của bệnh nhân. Xạ trị là phương pháp chủ yếu do đặc điểm giải phẫu của vòm họng và sự nhạy cảm của UTVMH với tia xạ.
Hiện nay hầu hết tại các cơ sở xạ trị tại Việt Nam sử dụng CT mô phỏng cho việc lập kế hoạch xạ trị ung thư. Trên hình ảnh CT, các bác sĩ xạ trị xác định thể tích khối u thô (GTV), thể tích đích lâm sàng (CTV), thể tích đích điều trị (PTV), các cơ quan lành xung quanh (OAR). Từ đó xác định liều vào các thể tích trên và tiến hành điều trị cho bệnh nhân. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định GTV trên hình CT do tổn thương có thể đồng tỷ trọng với mô lành. Hình ảnh PET/CT khắc phục được các nhược điểm của CT, giúp dễ dàng xác định chính xác khối u, vị trí, ranh giới và thể tích khối u sinh học (BTV).
Tác giả Trần Hải Bình phân tích PET/CT được đánh giá cao trong việc mô phỏng lập kế hoạch xạ trị. Trên hình ảnh lồng ghép PET và CT thu được cùng một lúc hai thông tin của khối u: hình ảnh giải phẫu và hình ảnh chuyển hóa. Vì thế PET/CT mô phỏng giúp xác định thể tích khối u (vẽ ranh giới giữa khối u và các cơ quan lành xung quanh) dễ dàng và chính xác hơn. Thể tích khối u sinh học (BTV) vẽ trên hình PET/CT mô phỏng là thể tích chính xác nhất với khối u thực tế, chính xác hơn thể tích khối u thô (GTV) vẽ trên hình CT mô phỏng. Không chỉ cho thông tin về ranh giới, thể tích, PET còn cho thông tin về mật độ phân bố tế bào ung thư bên trong khối u. Trước đây, trong xạ trị khối u vẫn được cho một thể tích đồng nhất và nhận một liều xạ đồng đều lên toàn bộ u. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học công nghệ, hiện nay các kỹ thuật xạ trị hiện đại như xạ trị điều biến liều (Intensity-modulated radiation therapy-IMRT), xạ trị điều biến thể tích (Volumetric modulated arc therapy-VMAT), xạ trị với hướng dẫn của hình ảnh (Image-guided radiation therapy-IGRT) … có thể phân bố liều khác nhau lên từng vùng của khối u. Vì thế PET mô phỏng giúp xác định các vùng bên trong khối u với mật độ tế bào ung thư khác nhau, từ đó hướng dẫn các nhà lâm sàng có kế hoạch phân bố liều vào u, tăng hiệu quả điều trị.
Trong nghiên cứu này, thể tích  BTV trung bình là 52,9 cm3 nhỏ hơn so với thể tích GTV trung bình: 77,1 cm3, khi vẽ trên PET/CT mô phỏng thể tích u giảm ở 73,3% số bệnh nhân và chỉ tăng hơn ở 26,7%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, liều chiếu trung bình vào u đạt 68,7Gy, đạt liều hiệu quả tiêu diệt u và hạch di căn triệt căn. Đối với các cơ quan lành, trong kế hoạch xạ trị 3D: liều xạ lên tuyến mang tai phải là 60,5Gy, tuyến mang tai trái là 59,3Gy, tủy sống là 40,9Gy, thân não 39,0Gy. Trong kế hoạch xạ trị điều biến liều: liều xạ đều thấp hơn hẳn: liều lên tuyến mang tai phải là 28,6Gy, tuyến mang tai trái là 32,8Gy, tủy sống là 27,1Gy, thân não 20,6Gy. Như vậy khi sử dụng kế hoạch xạ trị điều biến liều, các cơ quan lành chịu liều bức xạ thấp hơn, giảm biến chứng do điều trị cho bệnh nhân.
Xạ trị điều biến liều đối với UTVMH bảo vệ các cơ quan lành xung quanh khối u (tủy sống, tuyến nước bọt) tốt hơn xạ trị 3D. Khi quan sát các biến chứng muộn của các bệnh nhân này (xơ cứng cơ vùng cổ, cứng hàm, khô miệng do teo tuyến nước bọt) tác giả nghiên cứu nhận xét tỷ lệ bệnh nhân bị biến chứng ở nhóm xạ trị điều biến liều ít hơn xạ trị 3D (53,3% và 86,7%); và mức độ biến chứng cũng nhẹ hơn ở nhóm xạ trị điều biến liều so với nhóm xạ trị 3D.
Như vậy PET/CT giúp xác định chính xác giai đoạn bệnh UTVMH, có giá trị trong mô phỏng lập kế hoạch xạ trị. Việc sử dụng FDG PET/CT mô phỏng giúp việc lập kế hoạch xạ trị UTVMH chính xác hơn, mang lại hiệu quả cao hơn trong điều trị, giảm biến chứng do xạ trị, nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân sau điều trị.

  Anh Duy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 146

Số lượt truy cập: 9368610

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang