[Đăng ngày: 09/12/2015]
Từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015, BS CKII Nguyễn Hữu Châu – Trung tâm Nội tiết tỉnh Khánh Hòa cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh ung thư vú ở phụ nữ 20-60 tuổi trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”.
Nghiên cứu được thực hiện tại 8 huyện, thị xã, thành phố với sự tham gia của 1.200 người tự nguyện, trong đó thành phố Nha Trang có 360 người, Cam Lâm có 200 người, Vạn Ninh và Diên Khánh có 160 người, Cam Ranh và Ninh Hòa có 120 người và Khánh Sơn, Khánh Vĩnh mỗi huyện có 40 người tham gia nghiên cứu.
Đối với kết quả nghiên cứu về thực hành phòng chống bệnh ung thư vú, khảo sát về thói quen ăn uống có nguy cơ ung thư vú cho thấy có gần 83% đối tượng tham gia nghiên cứu không bao giờ uống rượu bia, tỷ lệ thường xuyên và thỉnh thoảng có uống rượu bia tức 1-3 lần/tuần chỉ chiếm tỷ lệ 3,4%; đối với sử dụng đồ nướng thường xuyên (4 lần/tuần) và thỉnh thoảng (từ 1-3 lần/tuần) chiếm tỷ lệ 22%. Tỷ lệ trong tuần qua sử dụng mỡ động vật chiếm gần 20%; không sử dụng dầu thực vật là 7,4%; tỷ lệ có sử dụng thực phẩm chiên rán là 66,2%. Theo tác giả nghiên cứu, nhiều bằng chứng khoa học cho thấy đồ uống chứa cồn gây nguy hiểm và mầm mống của các bệnh ung thư. Những phụ nữ uống nhiều hơn 45gram rượu mỗi ngày có nguy cơ phát triển ung thư vú cao gấp 1,5 lần so với người không uống rượu. Nghiên cứu cũng ghi nhận có gần 43% dùng ít nhất một chén rau trong mỗi bữa ăn trong tuần trước thời điểm phỏng vấn; chế độ ăn giàu trái cây và rau quả giúp giảm được nguy cơ bệnh ung thư vú.
Đối với hành vi hút thuốc lá, chỉ có tỷ lệ thấp (0,7%) đối tượng nghiên cứu có hút thuốc lá; theo tác giả nghiên cứu hút thuốc lá là nguyên nhân, yếu tố nguy cơ của nhiều loại ung thư; những người mới mắc ung thư vú có hành vi hút thuốc lá cao hơn so với người không hút thuốc.
Đối với thực hành thói quen tập thể dục, có gần 70% đối tượng nghiên cứu có tập luyện thể dục, trong đó thời gian tập 30-60 phút chiếm tỷ lệ 43%; 60 phút trở lên chiếm 36%. Đối với tỷ lệ 30% người không tập thể dục lý do không có thời gian chiếm gần 65%; hoặc là do lao động thể lực gần 30%.
Đối với thực hành phát hiện sớm bệnh ung thư vú, đối tượng nghiên cứu có tự khám vú chiếm 83,2%; mức độ khám hàng ngày gần 50%; hàng tuần 13,2%; hàng tháng là 8,2%. Còn tự khám vú không theo định kỳ là 21,4%; tự khám vú khi có triệu chứng bất thường ở vú là 7,7%. Đối tượng nghiên cứu đã từng khám lâm sàng chuyên khoa tuyến vú chiếm tỷ lệ gần 38%. Trong đó khám định kỳ hàng năm là 14,3%; 6 tháng là 18,7%. Tỷ lệ cao nhất là chủ động đi khám lâm sàng chuyên khoa vú không theo định kỳ là gần 47%; khám khi cảm thấy có triệu chứng bất thường ở vú là 18,2%.
Về số lần đi khám vú, đối tượng nghiên cứu khám 1-2 lần chiếm tỷ lệ cao nhất là 60,4%; khám 3-5 lần chiếm tỷ lệ 18%; khám từ 6 lần đến 20 lần chiếm tỷ lệ 3,8%. Khảo sát cho thấy lần cuối cùng đi khám vú cách đây đến 12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất là 54,5%; thời gian khám cách thời điểm khảo sát từ 12-24 tháng gần 20%; trên 2 năm là 25,7%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa được đối tượng nghiên cứu chọn là cơ sở y tế thăm khám phát hiện là hơn 60%; các Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố chiếm tỷ lệ 10,8%; Bệnh viện tư, phòng khám tư; bác sĩ tư nhân chiếm tỷ lệ gần 20%. Tỷ lệ khám phát hiện ung thư vú ở Trạm Y tế chiếm tỷ lệ 3,3%; phòng khám đa khoa khu vực chiếm tỷ lệ thấp hơn chỉ 2,2%.
Đối với lý do đối tượng nghiên cứu không thực hành thăm khám phát hiện ung thư vú vì không cần thiết, vì không có triệu chứng gì về bệnh chiếm đến 83%; có gần 12% do không có tiền; 6,3% cảm thấy ngượng khi đi khám vú và gần 4% lo ngại phát hiện ra bệnh khi đi khám. Đối với những phụ nữ đi khám ung thư vú có 31,3% đã từng siêu âm vú; 6,4% đã từng chụp nhũ ảnh. Cơ sở y tế đối tượng nghiên cứu lựa chọn để thực hành siêu âm, chụp nhũ ảnh Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản chiếm tỷ lệ 46% đối với siêu âm; tỷ lệ này ở Bệnh viện đa khoa tỉnh là 17%; gần 13% đối tượng nghiên cứu chọn bác sĩ tư; 11% đến các Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố. Đối với chụp nhũ ảnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa được chọn lựa chiếm 60%; chụp nhũ ảnh tại Bệnh viện tư chiếm tỷ lệ thấp 5,3%. Có 93,5% đối tượng nghiên cứu lựa chọn cơ sở y tế nhà nước để thăm khám điều trị khi phát hiện khối u, bất thường ở vú. Theo tác giả nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ trẻ dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn về thực hành tự khám vú, đi khám lâm sàng chuyên khoa và siêu âm để phát hiện sớm ung thư vú so với các nhóm tuổi cao hơn. Kết quả nghiên cứu qua 12 câu hỏi thực hành phòng ngừa bệnh ung thư vú liên quan đến thói quen ăn uống, hút thuốc lá, luyện tập thể dục và thực hành thăm khám, tầm soát ung thư vú, tỷ lệ người trả lời đúng từ 50% số câu hỏi trở lên đạt tỷ lệ 97%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố như độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, kiến thức đúng và thái độ đúng có ảnh hưởng đến tỷ lệ thực hành đúng về bệnh ung thư vú.  
Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 254

Số lượt truy cập: 9299075

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang