[Đăng ngày: 11/10/2015]
Ung thư vú là ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân ung thư gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới. Theo Bệnh viện K Hà Nội, ở Việt Nam khoảng 60-70% bệnh nhân ung thư vú đến viện đã ở giai đoạn tiến triển, di căn.
    Điều trị ung thư vú có nhiều lựa chọn như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp nội tiết và liệu pháp sinh học. Bác sĩ sẽ căn cứ thực tế tình trạng của người bệnh để phối hợp các phương pháp, cụ thể như ung thư vú loại gì, kích thước cỡ nào, ở giai đoạn mấy, tế bào ung thư có grad cao hay thấp, người bệnh đã mãn kinh chưa, các tế bào ung thư có các thụ thể đặc biệt không (ER, PR, HER2) và sức khỏe chung của người bệnh.
    BS. Trần Văn Thuấn, Phạm Văn Bình cùng các cộng sự Bệnh viện K Hà Nội đã có bài báo cáo “Tổng quan điều trị hệ thống bệnh nhân ung thư vú di căn có HER2 dương tính”. Theo đó, điều trị hệ thống ung thư vú di căn có nhiều lựa chọn tùy thuộc vào đặc điểm sinh học khối u. Ở những bệnh nhân có sự xáo trộn loại gen HER2 tạo ra loại thụ thể đặc biệt là HER2; xấp xỉ 20% bệnh nhân ung thư vú có HER2 dương tính. Nếu HER2 tăng quá mức sẽ có nguy cơ tái phát và có tiên lượng xấu về sống thêm. Để điều trị ung thư vú di căn có HER2 dương tính, hiện có 4 thuốc:
Trastuzumab: Kháng thể đơn dòng gắn vào phần ngoài tế bào của HER2
Pertuzumab: Kháng thể đơn dòng gắn vào phần nhị trùng ngoài tế bào của HER2, ngăn cản các phần này gắn với nhau và gắn với các thành viên khác của họ EGFR. Pertuzumab được sử dụng kết hợp với Trastuzumab.
Ado-trastuzumab emtansine (TDM1): thuốc kết hợp Trastuzumab và thuốc ức chế phân bào DM1.
Lapatinib: Là một TKI kháng EGFR1 và HER2, dẫn đến ức chế đường dẫn truyền tín hiệu HER2.
    Theo các tác giả nghiên cứu, không có chiến lược lý tưởng cho điều trị ung thư vú di căn có HERS dương tính, tuy nhiên cách tiếp cận hợp lý là phân loại bệnh nhân vào 2 nhóm có và không được điều trị Trastuzumab bổ trợ.
    Nếu bệnh nhân chưa được điều trị trước đó, ưu tiên kết hợp Trastuzumab, Taxane (Docetacel hoặc Paclitaxel) và Pertuzumab. Nếu không có Pertuzumab thì kết hợp Trastuzumab với đơn hóa trị. Nếu bệnh nhân đã được điều trị Trastuzumab bổ trợ và tiến triển di căn, căn cứ trên thời gian từ khi kết thúc điều trị bổ trợ đến thời điểm chẩn đoán bệnh di căn (khoảng thời gian không điều trị), nếu trên hoặc bằng 6 tháng: kết hợp Trastuzumab, Pertuzumab và Taxane; nếu ít hơn 6 tháng: khuyến nghị dùng Ado-Trastuzumab emtansine (TDM1). Nếu bệnh nhân không có điều kiện tiếp cận TDM1 có thể chọn phác đồ kết hợp có Trastuzumab hoặc phác đồ kết hợp dựa trên Lapatinib.
    Trong trường hợp người bệnh chưa được điều trị nhắm HER2 trước đó, kết hợp Trastuzumab, Pertuzumab và Taxane. Thường sử dụng phác đồ Paclitaxel hàng tuần, ít độc tính và dung nạp tốt hơn. Sau 6 đến 12 tháng điều trị sẽ đạt đáp ứng điều trị tối đa, thường dừng hóa trị và tiếp tục duy trì Trastuzumab kết hợp hoặc không kết hợp Pertuzumab; Nếu người bệnh có thụ thể nội tiết dương tính sẽ kết hợp thêm thuốc nội tiết với Trastuzumab ngay sau khi dừng hóa trị.
    Đối với câu hỏi khoảng thời gian không điều trị tiên đoán hiệu quả của điều trị nhắm HER2 tiếp sau đó, một số tác giả chọn mốc 12 tháng, một số chọn mốc 6 tháng. Các nhà lâm sàng thường chọn khoảng thời gian không điều trị trên hoặc bằng 6 tháng: kết hợp Trastuzumab, Pertuzumab và Taxane. Nếu chọn khoảng thời gian không điều trị ít hơn 6 tháng dùng TDM1; nếu không có điều kiện sử dụng TDM1 dùng phác đồ kết hợp dựa trên Lapatinib.
    Trường hợp bệnh nhân điều trị bước 2 hoặc muộn hơn, tiếp tục dùng các thuốc nhắm HER2 khi chuyển chéo phác đồ điều trị cho bệnh tiến triển ở bệnh nhân ung thư vú di căn đang điều trị phác đồ có thuốc kháng HER2, bất luận đang điều trị ở bước nào. Tuy nhiên người thầy thuốc phải cân nhắc dựa trên độc tính, các thuốc điều trị trước đó và lựa chọn của bệnh nhân. Điều trị tiếp sau với Trastuzumab có thể bị hạn chế bởi độc tính tim mạch; trong trường hợp này cần sự phối hợp giữa bác sĩ điều trị ung thư và bác sĩ tim mạch để tối ưu hóa điều trị.
    Việc theo dõi điều trị, đánh giá người bệnh cần được cá thể hóa, từng người bệnh. Người bác sĩ cần đánh giá kỹ lưỡng đáp ứng yêu cầu khám lâm sàng, xét nghiệm máu và chẩn đoán hình ảnh. Cụ thể cần khám lâm sàng trước mỗi chu kỳ điều trị, đánh giá bằng chẩn đoán hình ảnh sau mỗi 2 chu kỳ; đánh giá Tumor Marker (CA153, CA27.29, hoặc CEA) trước mỗi chu kỳ điều trị. Trong trường hợp điều trị thất bại trên lâm sàng tình trạng sẽ xấu đi, có bằng chứng tổn thương di căn mới; tăng kích thước tổn thương di căn so với sự ghi nhận trước đó.
    Tác giả nghiên cứu đã đưa ra kết luận, điều trị nhắm HER2 cho bệnh nhân ung thư vú di căn có HER2 dương tính là điều trị chuẩn hiện nay. Nếu bệnh nhân chưa được điều trị nhắm HER2 trước đó, kết hợp Trastuzumab, Pertuzumab và Taxane là phác đồ điều trị tối ưu. Nếu bệnh nhân đã được điều trị Trastuzumab trước đó, lựa chọn phác đồ dựa vào khoảng thời gian không điều trị. Có nhiều lựa chọn phác đồ bước 2, bác sĩ cần căn cứ vào các thuốc đã dùng, lựa chọn của người bệnh, sự sẵn có của các thuốc. Trong quá trình điều trị phải đánh giá kỹ càng đáp ứng dựa vào lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và chỉ điểm khối u.
    Ung thư vú lúc ban đầu thường im lìm, đáng lưu ý là có một cục hoặc một chỗ dày trong vú; khi ở giai đoạn muộn sẽ có sự thay đổi hình dạng của vú, da vú xù xì như da cam, ngứa quầng vú, núm vú ứa dịch đỏ, núm vú thụt vào, có cục ở nách. Để phát hiện sớm ung thư vú cần tự khám vú hàng tháng sau khi sạch kinh một vài ngày; siêu âm định kỳ vú giúp nhiều phụ nữ đến bác sĩ khám ở giai đoạn còn điều trị tốt; sau tuổi 40 có thể chụp nhũ ảnh để phát hiện sớm bệnh nếu có.
Thanh T ùng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 230

Số lượt truy cập: 9299474

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang