Rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp là những chấn thương và các rối loạn gây cảm giác đau đớn tới cơ bắp, gân và dây thần kinh ảnh hưởng đến cử động hoặc hệ thống cơ xương khớp của cơ thể người lao động.

Triệu chứng cơ bản, hay gặp nhất của rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp là đau. Trong một số trường hợp có thể xuất hiện cứng khớp, căng cơ, tấy đỏ và sưng vùng bị ảnh hưởng. Một số công nhân có thể thấy “bứt rứt như kiến bò”, tê liệt, thay đổi màu da hoặc giảm tiết mồ hôi ở bàn tay. Rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp xuất hiện và phát triển khi các cơ bắp hoạt động nhiều lần hoặc trong một thời gian dài mà không được nghỉ ngơi. Nguy cơ chấn thương sẽ tăng lên nếu lực tác dụng lớn hoặc công nhân phải làm việc trong tư thế bất lợi. Hầu hết rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp liên quan đến công việc là những rối loạn tích lũy, do phơi nhiễm lặp đi lặp lại với công việc có cường độ cao hoặc thấp trong thời gian dài. Những rối loạn này chủ yếu ảnh hưởng đến gáy, vai và chi trên nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến các chi dưới.
Rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp tiến triển từ từ, tích lũy theo thời gian. Hầu như tất cả các công việc đều đòi hỏi việc sử dụng cánh tay và bàn tay. Do đó, rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp ở chi trên và vai là phổ biến. Rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến chân, hông, mắt cá chân và bàn chân trong trường hợp điều kiện công việc đòi hỏi sử dụng chân và các khớp chân nhiều. Rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp tiến triển theo giai đoạn từ nhẹ đến nặng, từ không thoải mái đến đau đớn, từ lúc chỉ xảy ra khi đang làm việc cho đến khi xuất hiện ngay cả khi nghỉ ngơi. Kèm theo đó là các triệu chứng có thể biến mất nhanh chóng sau ca làm việc, sau đó xuất hiện ngày càng dai dẳng ngay cả khi không làm việc. Công nhân gom rác thải đô thị có phơi nhiễm với ecgonomi, lực tác động, tư thế lao động bất lợi, công việc có tính chất lặp đi lặp lại, gánh nặng lao động thể lực, tổ chức lao động, do vậy có thể dẫn đến rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Bằng cùng cộng sự Học viện Quân y, Đại học Y tế Công cộng thực hiện nghiên cứu báo cáo “Mức độ rối loạn cơ xương khớp trên công nhân thu gom rác thải công ty Môi trường đô thị Hà Nội năm 2017”.
Đối tượng nghiên cứu là 468 công nhân làm việc thu gom rác thải làm việc tại chi nhánh Hai Bà Trưng-công ty môi trường đô thị Hà Nội. Tiêu chuẩn chọn: công nhân có hợp đồng lao động, trực tiếp thu gom rác thải, làm việc ít nhất 18 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích. Sử dụng bộ câu hỏi Orebro để phỏng vấn công nhân: Bộ câu hỏi có 2 phần lớn: đánh giá cơn đau, vị trí đau; đánh giá ảnh hưởng của cơn đau tới sinh hoạt và lao động. Bộ câu hỏi Orebro có 25 câu hỏi, bao gồm câu hỏi về ngày nghỉ làm việc, lo lắng và căng thẳng, trầm cảm, đau, các hoạt động của cuộc sống hàng ngày liên quan đến đau, đối phó, và mong đợi của bệnh nhân để hồi phục… Điểm của bộ câu hỏi được tính 21 câu (từ câu 3-25). Mỗi câu hỏi có số điểm từ 0-10 điểm tương ứng với các phương án lựa chọn. Tổng điểm dao động từ 1-210 điểm. Điểm cắt được khuyến cáo sử dụng nhiều nhất là 105 đã được đề xuất cho những nguy cơ rối loạn cơ xương khớp kéo dài. Điểm tổng dao động từ 105-119 cho thấy khả năng phục hồi thấp. Điểm tổng càng cao cho thấy nguy cơ mắc rối loạn cơ xương khớp, tác động của đau cơ xương khớp tới chức năng, sinh hoạt và lao động càng lớn.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bằng báo cáo, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đối tượng mắc RLCXK cao (74,4%), cao hơn so với các nghiên cứu trong nước và thế giới với tỷ lệ CNTGRT mắc rối loạn cơ xương khớp liên quan bệnh nghề nghiệp chiếm khoảng 45-70%. Kết quả này có chút khác biệt có thể do sự chưa tương đồng trong đặc điểm cá nhân của đối tượng hoặc có thể bởi điều kiện làm việc của CNTGRT tại các quốc gia có phần khác nhau. Nghiên cứu cũng cho kết quả tương đồng với nghiên cứu khác với tỷ lệ đau vùng thắt lưng của CNTGRT có tỷ lệ cao nhất với 46,8% sau đó là đau cổ vai 43,4%, đau vai với 42,3%, vị trí có tỷ lệ đau ít nhất là bàn chân (19,9%), đùi (18,4%). Trong khi đó trên thế giới triệu chứng đau vùng lưng và thắt lưng được phản ánh nhiều nhất dao động từ 30-73%. Theo sau đó là đau chi trên 39,6%, đau vai 37%, đau chi dưới 27,4%, đau hông 1%.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, CNTGRT có tỷ lệ mắc RLCXK cao lên tới 74,4%. Trong đó vị trí đau nhiều nhất là ở vùng thắt lưng (46,8%); cổ (43,3%); đùi (18,4%). Trong nhóm công nhân báo cáo có RLCXK, 60,7% mắc RLCXK từ 2 vị trí trở lên. Tỷ lệ CNTGRT phải nghỉ 1 ngày trở lên do RLCXK chiếm tỷ lệ cao với 99,8%. 49,6% CNTGRT mức độ đau là vừa phải và chỉ có 2,6% đối tượng không đau. Sau khi làm mọi biện pháp để giảm đau chỉ có 7,4% CNTGRT thấy giảm đau hoàn toàn. 63,4% đối tượng có khả năng phục hồi RLCXK cao; 36,6% đối tượng có khả năng phục hồi thấp.
Hữu Cao