
Để hướng tới chẩn đoán lao ở phổi hoặc lao ở các cơ quan khác cần dựa vào việc thăm khám, phát hiện các triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, để chẩn đoán chắc chắn bị bệnh lao cần dựa vào việc tìm thấy vi khuẩn lao hoặc các hình ảnh tổn thương điển hình do vi khuẩn lao gây ra.
Nguyên tắc của xét nghiệm là phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật; thao tác chính xác, đảm bảo vô khuẩn, dụng cụ phải đúng và vô khuẩn; thực hiện lấy bệnh phẩm theo yêu cầu xét nghiệm; gửi mẫu ngay đến phòng xét nghiệm; phiếu xét nghiệm phải điền đầy đủ tất cả thông tin.
Trước tiên, đối với quy trình lấy đàm; dặn bệnh nhân vào ngày hôm trước khi đi lấy đàm, uống nhiều nước và nếu cần có thể uống thuốc long đàm. Buổi sáng thức dậy, không dùng chất sát trùng hay dung dịch súc miệng khi vệ sinh răng, không được ăn uống (có thể uống nước lọc).
Đàm thường lấy vào buổi sáng, ngay khi vừa ngủ dậy, hoặc cũng có thể lấy đàm ở bất cứ thời điểm nào trong ngày.
Cán bộ y tế hướng dẫn bệnh nhân ho từ họng, hít thở 2 lần thật sâu; lần đầu hít hơi vào thật sâu, nín thở khoảng 5 giây và thở ra chầm chậm; lần thứ hai hít hơi vào thật sâu ho mạnh cho đến khi có đàm trong miệng. Khi ho, luôn che miệng bằng khăn giấy, mở nắp họ đựng mẫu, đặt ở môi dưới, rồi nhẹ nhàng nhổ hết đàm vào trong lọ. Cần lưu ý không khịt mũi thay thế cho đàm; không lấy nước bọt thay thế cho đàm; nếu chưa đủ 3-5 ml, nghĩ một lát sau đó ho tiếp. Đậy chặt nắp lọ đàm; vận chuyển càng sớm càng tốt đến khoa vi sinh lâm sàng với mục đích tránh tối đa sự phát triển của vi khuẩn hội sinh ở miệng.
Cán bộ y tế có thể giúp cho bệnh nhân ho bằng cách dàng nắm tay vỗ lưng cho bệnh nhân để giúp đàm long ra, vỗ từ đáy phổi lần lên vai, cả hai bên; có thể cho bệnh nhân bắt chéo tay ôm ngực để dễ lấy khí từ trong sâu ra; hoặc cho khoảng 25ml nước muối sinh lý 9‰ vào khí dung kế, phun vào họng bệnh nhân để gây ho.
Đối với những bệnh nhân không khạc được đàm, nhưng trong khi ngủ bệnh nhân vẫn tiết đàm, được nuốt vào dạ dày, vi khuẩn lao không bị dịch dạ dày diệt, do vậy lấy đàm bằng cách hút dịch dạ dày được thực hiện vào buổi sáng có thể tìm thấy vi khuẩn lao.
Những trường hợp khác có thể bệnh nhân được bác sĩ chỉ định các phương pháp khác nhau như hút dịch màng phổi; nội soi phế quản để hút dịch phế quản hoặc sinh thiết tổn thương; chọc hút các tổn thương khác như dịch não tủy, dịch màng họng; dịch khớp, dịch mủ…
Đối với phương pháp sinh thiết các tổn thương, đây là một trong những cách quan trọng nhất để lấy bệnh phẩm chẩn đoán lao. Tùy vị trí tổn thương và các kỹ thuật sinh thiết khác nhau, như sinh thiết phổi, sinh thiết màng bụng, sinh thiết hạch, sinh thiết xương…
Đối với phản ứng Tuberculin (xét nghiệm Mantoux) chỉ có ý nghĩa hỗ trợ trong chẩn đoán, phương pháp này áp dụng trong chẩn đoán lao ở trẻ em khi phản ứng dương tính mạnh, > 15mm đường kính cục phản ứng với Tuberculin. Đối với phương pháp xét nghiệm soi trực tiếp (AFB) gồm nhuộm Ziehh Neelsen, nhuộm Auramin, nhuộm trên lam kính của giải phẫu bệnh lý. Đối với phương pháp xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn lao có cấy lao môi trường lỏng; cấy lao môi trường đặc. Độ nhạy 80-85%; độ đặc hiệu >99%.
Đối với phương pháp xét nghiệm kháng sinh đồ lao có 2 công thức, công thức 1: S(E)HRZ, công thức 2:SHRZE/1HRZE/5H3R3E3 và cuối cùng là phương pháp xét nghiệm PCR chẩn đoán lao nhất là lao ngoài phổi.
Tại Khánh Hòa, theo báo cáo Sở Y tế trong 6 tháng đầu năm 2015, toàn tỉnh thực hiện khám phát hiện lao hơn 37.500 lượt; phát hiện 660 bệnh nhân lao mới; trong đó AFB(+) là 448 bệnh nhân; có 1.504 bệnh nhân lao được quản lý, trong đó có 976 bệnh nhân có AFB(+). Số bệnh nhân lao được điều trị khỏi là 725 bệnh nhân, số bệnh nhân chết do lao là 21 người. Công tác khám và điều trị lao đa kháng thuốc đang được triển khai theo kế hoạch, hướng đến làm tốt hơn công quá quản lý bệnh lao và kiểm tra giám sát hoạt động chuyên môn ở tất cả các tuyến.
Hữu Tráng