
Bệnh lý cơ xương khớp hay các bệnh của hệ thống vận động là một nhóm bệnh lý rất thường gặp, đa dạng, diễn biến kéo dài liên quan đến cuộc sống lao động và sinh hoạt của mỗi con người.
Các bệnh lý cơ xương khớp bao gồm 10 nhóm bệnh chính là: các bệnh của tổ chức liên kết hay các bệnh tự miễn hệ thống; các viêm khớp do thoái hóa; các bệnh khớp nhiễm khuẩn liên quan tới các bệnh lý nhiễm trùng; các bệnh khớp liên quan đến chuyển hóa và rối loạn nội tiết; các bệnh lý tăng sinh của hệ thống cơ xương khớp (u lành, ung thư và cận ung thư); các rối loạn thần kinh- mạch máu; các rối loạn xương và sụn; các rối loạn ngoài khớp và một số rối loạn khác như chấn thương hệ xương cơ khớp gối do tai nạn giao thông.
Ảnh hưởng của các bệnh cơ xương khớp gây đau đớn kéo dài cho hàng triệu người, gây tàn phế cho nhiều triệu người, làm giảm năng suất lao động, hạn chế hoạt động hàng ngày. Bệnh cơ xương khớp là nhóm bệnh gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, các chi phí này đang gia tăng rất nhanh cùng với việc ứng dụng điều trị bằng phương pháp sinh học.
Hiện nay, để chẩn đoán bệnh cơ xương khớp có rất nhiều tiến bộ. Chẩn đoán sớm tổn thương sụn khớp, màng hoạt dịch bằng chụp MRI, siêu âm với độ phân giải cao, hệ thống chụp PET và PET-CT.
Các test ELISA được thực hiện để phát hiện các tự kháng thể trong các bệnh tự miễn hệ thống; các xét nghiệm sinh học đặc biệt ứng dụng công nghệ nano để định lượng các cytokine các interleukin, interferon để phụ chẩn đoán, theo dõi sự tiến triển của bệnh và theo dõi kết quả điều trị.
Ngoài ra, sự phát triển của các thiết bị chẩn đoán hình ảnh của hệ thống xương khớp, đánh giá sức mạnh của xương như đo khối lượng xương bằng DXA, chất lượng xương bằng MSCT hoặc Micro MRI, các xét nghiệm sinh học (bone markers) để đánh giá chất lượng của xương.
Trong các bệnh lý cơ xương khớp, các bệnh viêm khớp được coi là nhóm bệnh quan trọng nhất và cũng là nhóm bệnh mạn tính đang gia tăng nhiều nhất trong nhóm từ 40 tuổi trở lên. Nhóm bệnh viêm khớp với trên 100 dạng bệnh khác nhau, đa số có diễn biến kéo dài, phức tạp, nặng dần dẫn tới tàn phế và hủy hoạt chất lượng cuộc sống nếu không được điều trị sớm và theo dõi, quản lý tốt.
Đối với các bệnh lý của tổ chức liên kết, các bệnh tự miễn, bệnh hệ thống là nhóm bệnh lý quan trọng nhất như bệnh lý viêm khớp hệ thống, diễn biến phức tạp, nặng nề. Các bệnh lý này thường biểu hiện nhiều cơ quan như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vảy nến, lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì toàn thể…
Thoái hóa khớp cũng là bệnh lý viêm khớp thường gặp nhất, chiếm 30% các bệnh lý xương khớp và 50% các bệnh viêm khớp. Dự tính đến năm 2020, thoái hóa khớp sẽ là nguyên nhân thứ tư gây tàn phế cho con người, trên 90% các trường hợp thay khớp gối và khớp háng là do thoái hóa khớp.
Đối với vấn đề loãng xương và biến chứng loãng xương, gãy cổ xương đùi đang là vấn đề quan tâm toàn cầu, nhờ hiểu biết về cơ chế tạo xương mà mất xương, các yếu tố sinh học, nột tiết và di truyền ảnh hưởng đến chu chuyển xương, các thuốc điều trị loãng xương hiệu quả và được phát triển ứng dụng trên lâm sàng.
Mặc dù bệnh lý đa dạng, phức tạp nhưng tất cả các bệnh lý cơ xương khớp có chung mục tiêu điều trị bao gồm điều trị triệu chứng bằng thuốc giảm đau; thuốc kháng viêm giảm đau. Đối với điều trị làm giảm hay làm ngưng sự phát triển của bệnh, tùy loại bệnh mà sử dụng các thuốc chống thấp khớp, các thuốc sinh học, các thuốc ức chế miễn dịch; thuốc cải thiện cấu trúc sụn khớp, hoặc sử dụng một số biện pháp cấy, ghép sụn, tế bào gốc…
Trong tương lai, y học sẽ tiếp tục nghiên cứu mở rộng các ứng dụng của điều trị sinh học, điều trị gene, trị liệu di truyền, kỹ thuật thay khớp nhân tạo hoàn thiện hơn hoặc phát triển các phương tiện chẩn đoán hình ảnh MRI, CT, PET, PET-CT, HRUS, DXA…hoàn thiện hơn, có độ phân giải cao hơn.
Phúc Nguyên