Bà Trương Thị Mai-Chủ nhiệm Ủy ban về các Vấn đề Xã hội của Quốc hội

Tại Hội thảo “Đại biểu dân cử khu vực miền Trung và Tây Nguyên với Chính sách và Pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội” được tổ chức tại TP Nha Trang vào đầu tháng 7/2015; Bà Trương Thị Mai- Chủ nhiệm Ủy ban về các Vấn đề Xã hội của Quốc hội- đã nhấn mạnh công tác phòng, chống HIV/AIDS có hai vấn đề đáng quan tâm đó là vấn đề kỳ thị, phân biệt đối xử với người có HIV và nguồn lực. Đối với vấn đề thứ nhất, mặc dù khó khăn song có thể giải quyết từng bước bằng nhiều giải pháp trong đó có giáo dục, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức- nội lực có thể chủ động đảm đương. Đối với vấn đề thứ hai, sẽ khó khăn hơn nhiều nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã bước vào nhóm nước thu nhập trung bình thấp, việc phân bổ, sử dụng nguồn lực những năm qua đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS còn có những bất cập nhất định như dành nhiều đầu tư cho các vấn đề phổ quát trong khi vấn đề điều trị đối với người có HIV đang ngày càng đòi hỏi nguồn lực tài chính nhiều hơn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn lực của phòng, chống HIV/AIDS.
Bà Kristan Schoultz- Trưởng đại diện UNAIDS tại Việt Nam- đánh giá Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn trong công việc phòng, chống HIV như: Mở rộng nhanh chóng các can thiệp giảm hại cho nhóm người tiêm chích ma túy, người bán dâm và nam tình dục đồng giới (MSM); Mở rộng nhanh chóng điều trị ARV cho người nhiễm HIV; Giảm đáng kể số ca nhiễm HIV mới; bắt đầu Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015; huy động nguồn hỗ trợ to lớn về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm nguy cơ cao, cụ thể: chỉ có 04 trong 10 phụ nữ mại dâm và nam tình dục đồng giới (MSM) nhận được bao cao su và biết địa chỉ các cơ sở xét nghiệm HIV; chỉ có 04 trong 10 người tiêm chích ma túy nhận được bơm kiêm tiêm sạch; Việt Nam vẫn chưa đạt được một nửa chỉ tiêu đưa 80.000 người tiêm chích ma túy vào điều trị Methadone vào cuối năm 2015, cho dù đã có rất nhiều nỗ lực to lớn nhằm mở rộng các dịch vụ điều trị duy trì Methadone.
Một vấn đề khác là kỳ thị, phân biệt đối xử vẫn tiếp tục cản trở các nỗ lực phòng chống HIV; tỷ lệ kỳ thị người nhiễm HIV/AIDS vẫn ở mức cao hơn 60%. Theo bà Kristan Schoultz nếu không tiếp tục đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS, sẽ đẩy Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ bùng phát trở lại của dịch HIV (nhiều ca nhiễm mới hơn, và nhiều ca tử vong vì AIDS hơn). Điều này sẽ gây ra những tổn hại lớn hơn cho Việt Nam trong tương lai.
Đầu tư cho phòng chống HIV ngay bây giờ sẽ cứu được sinh mạng của người dân (và các nguồn lực) về lâu dài. Đầu tư một cách sáng suốt theo 6 ưu tiên đã được Khung chiến lược đầu tư đưa ra, đó là đầu tư vào đâu, cho ai và đầu tư như thế nào để có tác động lớn nhất.
Đối với vấn đề tài chính, Việt Nam cần gia tăng thêm nguồn ngân sách của Trung ương, của địa phương; nguồn bảo hiểm y tế; thu một số phần chi phí như dịch vụ điều trị Methadone đã được áp dụng một số nơi; Việt Nam cần sử dụng một cách thông minh hơn các nguồn kinh phí đang có: một kế hoạch, một hệ thống theo dõi và giám sát, ưu tiên vùng địa lý, chú trọng vào các nhóm nguy cơ cao/ dễ bị tổn thương nhất, các can thiệp có tác động lớn, lồng ghép và phân cấp việc cung cấp các dịch vụ HIV.
Riêng đối với nguồn sử dụng bảo hiểm y tế, đây là cách làm đầy triển vọng cho tương lai lâu dài, nhưng cần phải có thời gian. Tỷ lệ bao phủ của bảo hiểm y tế trong nhóm những người sống với HIV còn thấp; gói dịch vụ HIV cơ bản do bảo hiểm y tế chi trả hiện chưa có; cơ chế mua sắm ARV, phân phối và thanh toán qua bảo hiểm y tế hiện chưa có.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy bệnh nhân ARV phải trả tiền đã làm giảm số lượng bệnh nhân đến điều trị và tuân thủ điều trị, hơn nữa phần chi trả từ bệnh nhân chiếm một phần rất hạn chế cho việc thu hồi các chi phí. Cụ thể, Thái Lan đã thất bại trong việc thí điểm bệnh nhân chi phí điều trị ARV.
Bà Kristan Schoultz đã đưa ra các khuyến nghị cụ thể như: cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các tỉnh, thành phố nhằm gia tăng nguồn kinh phí của địa phương cho phòng chống HIV giai đoạn 2016-2020; lãnh đạo các tỉnh, thành phố cần phân bổ nguồn kinh phí ngân sách địa phương lớn hơn nữa cho công tác phòng chống HIV.
Tăng cường công tác phòng chống AIDS bằng việc tập trung vào những nơi dịch trọng điểm, cho những người có nguy cơ lây nhiễm HIV, và những can thiệp tạo ra được những tác động lớn nhất: chương trình phòng chống AIDS cần được xây dựng trên các ưu tiên đã được đưa ra trong Chiến lược đầu tư.
Tập trung tổng lực của cả Trung ương và địa phương để Việt Nam đạt được “kết thúc bệnh dịch AIDS vào năm 2030”, chúng ta phải chủ động và chia sẻ trách nhiệm trong cuộc chiến này.
Bà Trương Thị Mai cũng cho biết hiện nay, các nhà tài trợ lớn đã bắt đầu giảm tài trợ cho phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam (Quỹ Toàn cầu mới cam kết viện trợ đến hết năm 2017, PEPFAR cam kết viện trợ đến hết năm 2018), nguồn lực quốc gia đang trong quá trình xác định mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giai đoạn 2016-2020, kinh phí của Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2011-2015 cũng bị cắt giảm từ năm 2013 đến nay.
Mặc dù Chính phủ đã ban hành “Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030”, đồng thời chủ động phê duyệt Đề án “Bảo đảm tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013-2020” (Quyết định số 1899/QĐ-TTg ngày 16/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ), song cần phải có những giải pháp tài chính mạnh mẽ, phù hợp, không có kế hoạch ứng phó kịp thời thì thiếu hụt về tài chính cho phòng, chống AIDS sẽ ngày càng trở nên khó khăn và thậm chí có thể nghiêm trọng hơn. Đây là một thách thức rất lớn đối với việc tiếp tục duy trì bền vững và tăng cường hơn nữa các thành tựu trong phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tường Huân