Ngày 26/12/2017, Bộ Y tế ban hành Chỉ thị số 10/CT-BYT về tăng cường hoạt động giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV trong các cơ sở y tế.
Theo đó các đơn vị trong ngành y tế cần rà soát lại quy trình cung cấp dịch vụ dễ phát sinh kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV trong cơ sở y tế như quy trình xét nghiệm HIV và trả kết quả xét nghiệm; quy trình khám bệnh, chữa bệnh; quy trình lưu trữ hồ sơ, bệnh án; quy trình bảo mật thông tin cá nhân người bệnh để cập nhật, điều chỉnh các quy trình, tránh kỳ thị phân biệt đối xử với người nhiễm HIV.

Theo các chuyên gia phòng chống HIV/AIDS, nhân viên y tế có quyền được bảo vệ và được cảm thấy an toàn khi chăm sóc bệnh nhân; đồng thời với trách nhiệm nghề nghiệp của mình phải đảm bảo được cảm xúc, nỗi lo sợ nhiễm HIV của bản thân người cán bộ y tế không làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc y tế dành cho người bệnh.
Nhân viên y tế sợ bị lây nhiễm HIV từ người bệnh trong khi thực hiện các công việc thường quy tại bệnh viện; sự lo ngại này là nguyên nhân chính dẫn đến sự kỳ thị đối với người nhiễm HIV và các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao. Có một số nhân viên y tế cho rằng mình có quyền biết tình trạng nhiễm HIV của bệnh nhân để có thể bảo vệ cho chính mình không nhiễm HIV, do vậy tách bệnh nhân HIV ra ở phòng riêng, đánh dấu hồ sơ giường bệnh…việc làm đó là không đúng; tạo ra không khí lo sợ và vi phạm quyền bảo mật thông tin. Những thực hành này không làm giảm nguy cơ lây truyền HIV ở cơ sở y tế; thậm chí có thể dẫn đến những kết quả ngược.
Dự phòng chuẩn là giải pháp bảo vệ nhân viên y tế mà không gây ra sự kỳ thị và bảo vệ cả bệnh nhân của mình. Dự phòng chuẩn cho rằng tất cả máu và loại dịch tiết cơ thể đều có khả năng truyền nhiễm, vì vậy tất cả đều phải dự phòng chuẩn từ đó đem lại an toàn cho tất cả mọi người.
Rõ ràng chúng ta không cần biết tình trạng nhiễm HIV của người bệnh; dự phòng chuẩn được thiết kế để bảo vệ các nhân viên y tế và người bệnh. Luật phòng chống HIV quy định, chỉ những ai trực tiếp chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV mới được cung cấp thông tin về tình trạng nhiễm HIV của người bệnh. Nếu nhân viên y tế không có trách nhiệm phải chăm sóc bệnh nhân đó, chúng ta không có quyền biết tình trạng của bệnh nhân. Đối với người cán bộ y tế biết tình trạng nhiễm HIV của bệnh nhân phải có trách nhiệm bảo mật thông tin cho người bệnh, nếu vi phạm có thể bị kiện ra tòa.

Theo chuyên gia HIV/AIDS, bất cứ ai ở cơ sở y tế đều có nguy cơ nhiễm HIV, mỗi người có những mức độ nguy cơ khác nhau. Ví dụ y tá và bác sĩ có nguy cơ trong quá trình thực hiện các hoạt động lâm sàng, người lau dọn có nguy cơ khi lau chùi dụng cụ hoặc phân hủy rác thải.
Người cán bộ y tế cần biết cụ thể, rõ ràng HIV lây truyền qua những con đường nào, và cũng quan trọng không kém là biết HIV không lây qua những con đường nào. HIV có thể lây truyền ở cơ sở y tế thông qua tiếp xúc với máu và dịch cơ thể, điều này có thể xảy ra qua vết thương hở, bị thương do kim tiêm bẩn và/hoặc dụng cụ sắc nhọn, truyền máu nhiễm HIV hoặc sản phẩm máu, bắn dịch cơ thể bị nhiễm bệnh vào niêm mạc hoặc sử dụng dao cạo nhiễm bẩn. Không có bằng chứng cho thấy HIV lây truyền qua các hình thức tiếp xúc khác như tiếp xúc thông thường qua nói chuyện hoặc ngồi cạnh người nhiễm HIV; làm việc với người nhiễm HIV; cho bệnh nhân ăn hoặc đo huyết áp hoặc cặp nhiệt độ cho người bệnh.
Cần biết rằng, điều kiện để HIV lây truyền (1) phải có đủ số lượng HIV trong dịch cơ thể; HIV có nhiều trong máu, tinh dịch, dịch âm đạo và sữa mẹ. Số lượng HIV rất ít trong nước bọt, chất nôn, phân và nước tiểu; không tìm thấy trong mồ hôi, nước mắt. (2) Phải có đầy đủ hoạt lực – vi rút còn “đủ mạnh”, HIV không sống trên bề mặt của da, HIV sống bên trong cơ thể. HIV là một vi sinh vật yếu ớt, không tồn tại lâu bên ngoài cơ thể, nó chết khi tiếp xúc với không khí. (3) Nếu lây truyền HIV phải có đường vào qua da vào trong máu của người chưa bị nhiễm, như thông qua tĩnh mạch (như tiêm chích, đưa máu đã nhiễm HIV trực tiếp vào trong máu của người chưa bị nhiễm); thông qua niêm mạc hậu môn, âm đạo, hoặc thông qua các vết loét trên dương vật, hậu môn hoặc âm đạo. Thông qua các xây xướt trên da, mặc dù HIV không thể đi qua chúng một cách dễ dàng. Đối với lây truyền từ mẹ sang con, các bà mẹ có HIV dương tính có thể lây truyền HIV cho con trước hoặc trong khi sinh (thông qua đường máu) hoặc sau khi sinh thông qua sữa mẹ.
Cơ thể con người là một hệ thống khép kín, làn da khỏe mạnh là một hàng rào bảo vệ tuyệt vời ngăn cản HIV. HIV không thể xâm nhập khi da chưa bị xây xước. Sự sợ hãi lây nhiễm HIV là hoàn toàn tự nhiên, đây là phản ứng của con người đối với một loại bệnh có thể gây chết người. Tuy nhiên lo sợ còn bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về cách thức lây truyền HIV; một số nhân viên y tế vẫn tin mình có thể bị lây nhiễm HIV thông qua bất kỳ tiếp xúc nào với người nhiễm HIV; ví dụ khi cho bệnh nhân ăn, khi đo huyết áp. Điều này sẽ làm tăng sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV.
Để phòng lây nhiễm HIV, cần thực hiện tốt nguyên tắc dự phòng chuẩn. Các nhân viên y tế cần luôn mang găng tay, khẩu trang để tự bảo vệ mình khi tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết cơ thể của mọi bệnh nhân, tuy nhiên không cần thiết phải mang găng tay khi cho bệnh nhân ăn, đo nhiệt độ, đo huyết áp, hoặc thực hiện các công việc thường quy khác.
Cán bộ y tế cần nhớ, hai nguyên nhân gốc rễ của tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử, đó là thái độ phê phán và đổ lỗi với người nhiễm HIV; sợ bị nhiễm HIV qua tiếp xúc người bệnh nhiễm HIV. Kỳ thị là những gì mà người bị kỳ thị đã trải nghiệm hoặc cảm nhận; vì vậy điều quan trọng là những người bị kỳ thị cảm thấy như thế nào, chứ không phải liệu nhân viên y tế cảm thấy đang làm công việc tốt hay không. Một số hành vi, thái độ của nhân viên y tế có thể làm cho người nhiễm HIV bị tổn thương, đó là sự kỳ thị.
Nhân viên y tế cần làm việc một cách chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ y tế một cách bình đẳng cho tất cả bệnh nhân và điều trị tất cả các bệnh nhân một cách thân thiện. Thực hiện được điều này sẽ góp phần làm giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với bệnh nhân nhiễm HIV và các nhóm nguy cơ cao.
Thanh Tùng